- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự tàng trữ trái phép ma túy - T V N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:117/2021/HS-ST Ngày 22 tháng 12 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thu Dung và ông Bồ Xuân Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Thường Tín
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Văn N, sinh năm 1987 tại Hà Nội; Trú tại thôn Y P, xã L N, huyện T T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc Kinh; Tôn giáo không; Trình độ văn hóa lớp 7/12; Nghề nghiệp lao động tự do; Con ông: Không xác định; Con bà: Trần Thị H; Đã ly hôn vợ là Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1990; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2021 đến nay (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1982. Trú tại: Tập thể Ô tô V Q, huyện T T, thành phố Hà Nội (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 30/9/2021, Trần Văn N mượn điện thoại của người đi đường gọi cho một người đàn ông tên T để hỏi mua ma túy. T đồng ý và hẹn gặp ở khu vực trước cửa hàng bách hóa Quán Gánh. Sau đó, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu BKS: 29N5-5057 một mình đến chỗ hẹn thì thấy T đang đứng đợi một mình trước đó nên đã đưa cho T số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). T cầm tiền rồi đưa lại cho N một túi nilon màu trắng nhỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá. N cầm số ma túy vừa mua được ở tay phải lên xe để đi về tìm nơi sử dụng thì bị Công an xã Nhị Khê kiểm tra bắt giữ. Tang vật thu giữ gồm có: 01 (Một) túi nilon màu trắng, KT (2,5 x 01)cm, bên trong có chứa các tinh thể màu trắng; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II, màu nâu, mang BKS: 29N5-5057.
Tại Bản kết luận giám định số 7187/KLGĐ-PC09 ngày 07/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong một túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,307 gam.
Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKSTT ngày 26 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín đã truy tố bị cáo Trần Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Thường Tín giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt từ 12 – 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung Cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 30/9/2021, tại khu vực trước cửa hàng Bách hóa Quán Gánh thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, Trần Văn N có hành vi tang trữ trái phép 01 gói ma túy loại Methampetamine, khối lượng 0.307 gam thì bị tổ công tác Công an xã Nhị Khê, huyện Thường Tín phát hiện bắt giữ.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lí chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự địa phương, cần áp dụng hình phạt tù với thời gian cách ly xã hội đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt và răn đe những người khác không phạm tội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Nhân thân bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, phạm tội lần đầu; sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; tàng trữ lượng ma túy nhỏ, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ đã được niêm phong cần tịch thu, tiêu hủy.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II, màu nâu, mang BKS: 29N5-5057 cơ quan công an đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ đúng pháp luật
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, ra các quyết định tố tụng hợp pháp theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 13 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/9/2021;
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ túi nilon màu trắng, KT (2,5 x 01)cm, bên trong có chứa ma túy (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội);
3. Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Thường Tín; - Công an huyện Thường Tín; - Chi cục THADS huyện Thường Tín; - Lưu hồ sơ, văn phòng… | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Tuấn |