- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117 /2021/HS - ST Ngày: 16/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Tuấn.
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ, Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2021/TLST - HS ngày 25 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2021/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đàm Văn T, sinh ngày 14/03/1981.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã P, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông: Đàm Văn M, sinh năm 1957; Con bà: Ngọc Thị T, sinh năm 1959. Gia đình có: 05 chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1982. Con: Có 02 con; Con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đại Từ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có QLNVLQ: Chị Nguyễn Thị D , sinh năm 1982 (Có mặt).
Trú quán: Xóm T, xã P, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người chứng kiến: Anh Lộc Văn C, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Trú quán: Xóm T, xã Đ, huyện Đại Từ, Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 06/8/2021, tổ công tác của Công an xã Đ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đang làm nhiệm vụ trên đoạn đường tỉnh lộ 263 thuộc xóm T, xã Đ, thì phát hiện một nam thanh niên đang đứng cạnh xe mô tô BKS 20F1 - AAAAA dừng ở lề đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, nam thanh niên này khai nhận tên là Đàm Văn T, T tự giác lấy từ trong túi quần sóoc bên trái đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 06 gói giấy bạc màu vàng, bên trong mỗi gói có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai nhận là ma túy Heroine) mua về để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng (niêm phong bì thư ký hiệu T1) theo quy định, ngoài ra còn thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu đen (niêm phong bì thư ký hiệu D); 01 xe mô tô BKS 20F1 - AAAAA và chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đại Từ để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 16 giờ 50 phút, ngày 06/8/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật đối với Đàm Văn T kết quả không thu giữ gì.
Hồi 18 giờ 15 phút ngày 06/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên. Có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng (nghi là Heroine) thu giữ của Đàm Văn T có khối lượng là 0,204 gam, niêm phong trong bì thư kí hiệu T1 gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 1246/KL-KTHS ngày 14/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì thư ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,204gam.
Tại cơ quan điều tra Đàm Văn T khai nhận: Khoảng 8 giờ ngày 06/8/2021, T một mình điều khiển xe máy BKS 20F1 - AAAAA (là xe của vợ Nguyễn Thị D) đi từ nhà đến khu vực bến xe khách Thái Nguyên, để mua ma túy Heroine về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Đến nơi, T gặp một người đàn ông (khoảng 50 tuổi, không rõ địa chỉ, ở đâu, cụ thể). T hỏi mua ma túy thì người này đồng ý, T mua 400.000 đồng được 06 gói ma túy (Heroine) đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng. Sau đó T cho 06 gói ma túy vào túi nilon màu trắng, cất vào túi quần sóoc phía trước đang mặc, điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi về đến khu vực đường tỉnh lộ 263 thuộc xóm T, xã Đ, huyện Đại Từ, thì bị Tổ công tác Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Vision, BKS 20F1 - AAAAA, ngày 06/8/2021. T đã sử dụng đi mua ma túy là của chị Nguyễn Thị D, ngày 05/10/2021, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trả lại cho chị Nguyễn Thị D quản lý sử dụng.
- 02 phong bì niêm phong có ký hiệu T1, T2 còn nguyên tình trạng niêm phong và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen có số thuê bao BBBBBBBBBB. IMI 1: 354814093594444/01 và số IMI 2: 354815093594441/01. Hiện đang được bảo quản, lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKSĐT ngày 25/10/2021, VKS nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đàm Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX. Tuyên bố: bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: bị cáo T mức án từ 24 đến 30 tháng tù; phạt bổ sung từ 05 đến 10 triệu đồng; Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những tài liệu chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
. Xét hành vi của bị cáo, thấy: Tại phiên tòa bị cáo Đàm Văn T khai nhận. Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 06/8/2021 tại khu vực đường tỉnh lộ 263, thuộc xóm T, xã Đ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Đàm Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,204 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời, nhưng chưa kịp sử dụng và mua bán thì bị Tổ công tác Công an xã Đ, huyện Đại Từ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật; bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và các quy định của pháp luật trong việc quản lý, sử dụng chất ma túy nhưng ngày 06/8/2021 bị cáo vẫn cố tình tàng trữ 0,204 gam chất ma túy loại heroin trên người, mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. VKS nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung khoản 1 Điều 251 BLHS quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, tại phiên tòa bị báo xuất trình quyết định về việc bố vợ của bị cáo bị nhiễm chất độc mầu da cam nên có thể xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS
. Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức các việc làm đúng sai, tuy nhiên do không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên đã trở thành đối tượng nghiện chất ma túy.
. Về hình phạt: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy, mặc dù là đối tượng nghiện chất ma túy nhưng bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự; hành vi phạm tội có tính chất giản đơn; có thái độ thành khẩn khai báo. Tuy nhiên, cần thiết phải có hình phạt tù giam đối với bị cáo mới đảm bảo tính dăn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, gia đình có điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án + Trách nhiệm dân sự có liên quan:
+ 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Vision, BKS 20F1 - AAAAA, ngày 06/8/2021. T đã sử dụng đi mua ma túy là của chị Nguyễn Thị D, ngày 05/10/2021, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trả lại cho chị Nguyễn Thị D quản lý sử dụng. Tại phiên tòa chị D không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
+ 02 phong bì niêm phong có ký hiệu T1, T2 còn nguyên tình trạng niêm phong. Đây là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành cần được tịch thu và tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen có số thuê bao BBBBBBBBBB. IMI 1: 354814093594444/01 và số IMI 2: 354815093594441/01. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, xác định không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST sung công quỹ Nhà nước.
. Các nội dung có liên quan khác:
Về nguồn gốc số ma túy Heroine T khai mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ, ở khu vực bến xe khách, thuộc thành phố Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch của người đàn ông nêu trên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý.
Đối với chị Nguyễn Thị D là chủ sở hữu xe mô tô BKS 20F1- AAAAA, do T sử dụng vào việc đi mua ma túy, chị D không biết việc T dùng xe của chị đi mua ma túy, nên không xem xét xử lý đối với chị D.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Đàm Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2021.
Áp dụng: Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đàm Văn T.
* Vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong có ký hiệu T1, T2 còn nguyên tình trạng niêm phong.
+ Trả lại cho bị cáo Đàm Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen có số thuê bao BBBBBBBBBB. IMI 1: 354814093594444/01 và số IMI 2: 354815093594441/01 nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 127/QĐ - VKSĐT ngày 25/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật án phí lệ phí; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đàm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo và người có QLNVLQ biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS tỉnh; Sở tư pháp tỉnh; - Công an, VKS huyện Đại Từ; - THADS + THAHS Đại Từ; - Bị cáo; UBND xã Phú Lạc; - Lưu hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Kiên |