- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2021/HS-PT Ngày: 27-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm
Các Thẩm phán:
Ông Lê Tự
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Tuấn, Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 261/2020/TLPT-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Trần Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2020/HS-ST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
TRẦN MINH H, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Minh H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 06/2019/HS-ST ngày 07/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Trần Minh H 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt giam ngày 21/10/2018, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Thái H, Luật sư, Văn phòng Luật sư P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa; Địa chỉ: tỉnh Khánh Hòa, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Hồng Thị Chanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 11 giờ 15 phút ngày 21/10/2018 tại khu vực trước cửa hàng xăng dầu số 02, địa chỉ số 301 đường T, P, N, Khánh Hòa, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố N phát hiện bắt quả tang Trần Minh H đang cầm trên tay một bịch ny lông màu cam (niêm phong ký hiệu A) bên trong có 2 gói ny lông màu xanh lá cây kích thước 10,5x20 cm chứa chất tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 1.994,2069g. Trần Minh H khai nhận chất tinh thể màu trắng bị thu giữ là ma túy của H và Hồng Thị Chanh T mua để bán kiếm lời.
Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 21/10/2018, Cơ quan điều tra Công an thành phố N phối hợp với Công an phường Phước Hải tiến hành kiểm tra phát hiện tại trước địa chỉ 1A Đ, Hồng Thị Chanh T đang giữ 1 bịch ny lông màu xanh lá cây bên trong chứa 868,7404g chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu B); 1 xe máy hiệu Suzuki màu đỏ (không biển kiểm soát). Hồng Thị Chanh T khai nhận, chất tinh thể màu trắng trong bịch ny lông màu xanh bị thu giữ là ma túy đá của H mới đưa T cất giữ và nói chờ H quay lại.
Trần Minh H khai nhận, toàn bộ số tang vật bị thu giữ quả tang của H và T là ma túy đá do H mua của người tên C tại Campuchia với giá 15.000 USD/1 kg để trực tiếp mang về bán, đây là lần thứ hai H và T đi bán ma túy tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Trước đó, khoảng cuối tháng 9/2018, H nhờ bạn tên T (chưa rõ lai lịch) giới thiệu người mua, sau đó một nam thanh niên tại thành phố N đã liên lạc H đề nghị mua 2 kg ma túy đá và thỏa thuận H bán ma túy tại thành phố N với giá 420.000.000 đồng/kg. Tối ngày 06/10/2018 H gặp C tại Campuchia mua 2 kg ma túy. Ngày 07/10/2018 H, T mang ma túy về Việt Nam đi qua đường tiểu ngạch (không qua trạm kiểm soát). Khi vào Việt Nam cả hai đi về nhà của T tại Sóc Trăng để ăn tết của người Khơ me, sau đó H mang một ít ma túy về thành phố N trước để người mua dùng thử, nếu đồng ý thì T sẽ mang 2 kg ma túy đến thành phố N để bán. Ngày 09/10/2018 Trần Minh H mang một ít ma túy về đến C gặp T rồi cả hai đi gặp người thanh niên tại thành phố N để thỏa thuận thống nhất việc mua bán 2 kg ma túy. Sau đó, H điện thoại cho Hồng Thị Chanh T trực tiếp mang ma túy gặp nhau tại thành phố C, Khánh Hòa, rồi cùng đi thành phố N thuê khách sạn nghỉ để H trực tiếp bán 2 kg ma túy cho người phụ nữ tên D tại thành phố N vào tối ngày 12/10/2018 và rạng sáng ngày 13/10/2018 được tổng cộng 825.000.000 đồng.
Đến ngày 18/10/2018, sau khi nhận được điện thoại đề nghị bán tiếp 3 kg ma túy của người thanh niên ở thành phố N; H, T tiếp tục mua 3 kg ma túy của
2
C tại Campuchia, rồi cùng T mang 3 kg ma túy về thành phố N, Khánh Hòa để bán. Khi đi ra thành phố N, T rủ thêm Hồng P (sinh năm: 1989, em ruột T), Trương Thị Hồng N (sinh năm 2000, con gái ruột của T) và Nguyễn Văn T (bạn trai của N) cùng đi N chơi. Trưa ngày 19/10/2018 cả nhóm cùng về Việt Nam, H và T mang 3 kg ma túy đi qua đường tiểu ngạch, còn P, N, T đi qua đường chính ngạch, gặp nhau tại chợ A, tỉnh An Giang, cả nhóm thuê xe taxi đi thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 11 giờ ngày 20/10/2018, H thuê xe ô tô biển kiểm soát 51G-583.09 của anh Nguyễn Anh D chở cả nhóm đến thành phố N vào lúc đêm cùng ngày, nghỉ tại nhà nghỉ gần khu vực C, V, N. Khoảng 8 giờ ngày 21/10/2018 H nói tài xế xe chở nhóm Hồng P, Trương Thị Hồng N, Nguyễn Văn T đến khu vực biển Bãi Dài, C, Khánh Hòa chơi, còn H điều khiển xe máy hiệu Suzuki chở T mang theo 3 kg ma túy đá (được gói trong 3 gói ny lông màu xanh) đến quán nước trên đường Đ, phường P, thành phố N chờ đi bán ma túy. Sau khi gặp người thanh niên tại thành phố N nói D chỉ đủ tiền để mua 2 kg ma túy nên H lấy 1 kg ma túy đưa T cất giữ, sau đó H mang theo bịch ny lông chứa 2 kg ma túy đi cùng người thanh niên đến khu vực lầu 7, phường Vĩnh Phước, thành phố N để bán cho D. Khi đến khu vực cửa hàng xăng dầu số 02, tại địa chỉ 301 đường Thống Nhất, trong lúc H đang đứng chờ người nam thanh niên chạy xe máy vào đổ xăng thì bị phát hiện kiểm tra thu giữ quả tang.
Tại Kết luận giám định số 558/GĐTP/2018 ngày 23/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tinh thể trong mẫu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1.994,2069 gam, là loại Methamphetamine. Tinh thể trong mẫu B gửi giám định là ma túy, có khối lượng 868,7404 gam, là loại Methamphetamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2020/HS-ST ngày 05/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; khoản 1 Điều 56; Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh H Tử hình. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 6 tháng tù mà bị cáo Trần Minh H phải chấp hành tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2019/HSST ngày 07/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là Tử hình.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Minh H để đảm bảo thi hành án.
3
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần tội danh và hình phạt của bị cáo Hồng Thị Chanh T, phần xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/5/2020, bị cáo Trần Minh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Minh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời bào chữa của luật sư cho bị cáo Trần Minh H nhất trí về phần tội danh và khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng để xét xử đối với bị cáo Trần Minh H. Luật sư cho rằng, trong quá trình điều tra bị cáo H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được lỗi lầm của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh H, xử bị cáo H mức án Tù chung thân cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bị cáo Trần Minh H khai nhận: Thông qua người bạn tên T (chưa rõ lai lịch) giới thiệu người mua ma túy, Trần Minh H mua ma túy của một người có tên C ở Campuchia với giá 15.000 USD/1kg rồi cùng với Hồng Thị Chanh T đem ma túy từ Campuchia về thành phố N, tỉnh Khánh Hòa bán lại để kiếm lời. Vào tối ngày 12/10/2018 rạng sáng ngày 13/10/2018, H đã đem 2 kg ma túy bán cho người phụ nữ tên D tại khu vực lầu 7, phường Vĩnh Phước, thành phố N, được số tiền 825.000.000 đ. Ngày 21/10/2018, H và T tiếp tục đem ma túy đi bán thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố N phát hiện bắt quả tang, thu giữ của H 1.994,2069 gam ma túy, thu giữ của T 868,740 gam ma túy. Theo kết quả giám định đều là ma túy loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Minh H, đối chiếu thấy phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Minh H đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
4
Bị cáo Trần Minh H nhận thức rõ: Ma túy là tệ nạn xã hội, không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn để lại hậu quả nghiêm trọng cho các thế hệ mai sau; là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm nghiêm trọng khác; nhưng do muốn có nhiều tiền lời nên bị cáo H bất chấp, cố tình gieo rắc tác hại cho xã hội. Khối lượng ma túy mà bị cáo H mua bán là lớn. Nhân thân của bị cáo H, ngày 07/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên cần xử phạt bị cáo H với mức án nghiêm minh là cần thiết.
Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, mức độ phạm tội, đồng thời xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo H như: Thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và áp dụng mức hình phạt Tử hình đối với bị cáo Trần Minh H là tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh H, cũng như lời bào chữa của luật sư cho bị cáo H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Minh H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 4 Điều 329, điểm d khoản 1 Điều 367 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh H Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 06/2019/HS-ST ngày 07/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Trần Minh H 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình phạt chung của 02 bản án buộc bị cáo Trần Minh H phải chấp hành là Tử hình.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Minh H để đảm bảo thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Trần Minh H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần tội danh và hình phạt đối với bị cáo Hồng Thị Chanh T, phần xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Trần Minh H được quyền gửi đơn lên Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Khánh Hòa; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan CSTHAHS - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thanh Liêm |