- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Việt H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Ngô Việt H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2020/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nh n d n thành phố T, tỉnh Bình Dương:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2020/HS-PT Ngày 13-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.
Các Thẩm phán:
Ông Đặng An Thanh.
Ông Trần Văn Luông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Th Ng n – Thư ký Tòa án nh n d n tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguy n Th Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nh n d n tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 108/2020/TLPT-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 đối với b cáo Ngô Việt H. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2020/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nh n d n thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Họ và tên bị cáo có kháng cáo:
Ngô Việt H, sinh năm 1985 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: khóm X, PhườngY, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: lớp 9/12; quốc t ch: Việt Nam; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Ngô Văn Bvà bà Huỳnh Th P; có vợ là bà Trương Kim T và có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: không; tại ngoại; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 người đại diện hợp pháp của b hại, 01 b đơn d n sự và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, không b kháng ngh nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Việt H có Giấy phép lái xe hạng A1 và E số 960026000757 (do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 29/5/2014, có giá tr đến ngày 29/5/2019) và là tài xế của Doanh nghiệp Tư nh n Xe khách H. Ông Đào Bé T1 có Giấy phép lái xe hạng E số 960141013368 (do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 01/10/2014, có giá tr đến ngày 01/10/2019) và là tài xế của Doanh nghiệp Tư nh n V. Bà Nguy n Th Thùy T2 có Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AK299512 (do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 08/5/2009, có giá tr không thời hạn).
Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 22/02/2019, H điều khiển xe ô tô khách 43 chỗ biển số 69B – X chở khoảng 40 hành khách lưu thông trên Quốc lộ 13 theo hướng từ th xã B, tỉnh Bình Dương về hướng vòng xoay G, thành phố T, tỉnh Bình Dương với tốc độ khoảng 50 km/giờ. Khi đến gần giao lộ giữa Quốc lộ 13 và đường H, đoạn thuộc khu phố X, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, đèn tín hiệu giao thông hiển th màu đỏ. H điều khiển xe giảm tốc độ và dừng xe lại. Lúc này, trên cùng làn đường xe ô tô của H (làn đường giữa dành cho xe ô tô khách) có xe ô tô khách 42 chỗ biển số 69B – X do ông T1 điều khiển chở khoảng 40 hành khách đang dừng chờ đèn tín hiệu. Khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh, H bật đèn tín hiệu xi nhan trái và chuyển hướng xe sang trái vào làn đường dành cho xe ô tô (sát dải ph n cách cố đ nh) để vượt qua bên trái xe ô tô khách biển số 69B – X do ông T1 điều khiển. Do không chú ý quan sát nên góc trước bên phải đầu xe ô tô do H điều khiển đã va chạm vào phía sau bên trái xe mô tô biển số 63H7 - Z do bà T2 điều khiển chở con là cháu Trần Nguy n T3 (sinh năm 2012) đang lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả tai nạn làm xe mô tô biển số 63H7 – Z, bà T2 và cháu T3 ngã xuống đường, bà T2 b thương tích nhẹ còn cháu T3 b xe ô tô biển số 69B -X do ông T1 điều khiển cán qua người và tử vong.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 22/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T xác đ nh như sau:
- Hiện trường nguyên vẹn, nạn nh n đã được đưa đi cấp cứu. Hiện trường xảy ra tai nạn là tại khu vực Quốc lộ 13, đoạn thuộc khu phố X, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Mặt đường Quốc lộ 13, được trải nhựa bằng phẳng, đường thẳng, đường chia thành hai chiều xe chạy bởi dải ph n cách cố đ nh, tầm nhìn không b che khuất.
- Phần đường bên phải Quốc lộ 13 theo hướng xe đi từ th xã B về vòng xoay G có 03 làn đường xe đi. Làn đường dành cho xe mô tô rộng 03 m, làn đường dành cho xe ô tô khách rộng 3,6 m, làn đường dành cho xe ô tô con rộng 3,7 m.
- Hiện trường được đo vẽ và lấy vạch dừng chờ đèn đỏ làm điểm mốc, lấy lề phải đường Quốc lộ 13 hướng từ th xã B về vòng xoay G làm chuẩn.
- Sau khi tai nạn xảy ra hiện trường để lại:
+ Xe ô tô biển số 69B - X dừng, đầu xe quay về hướng vòng xoay G. Bánh trước bên phải cách lề phải là 3,8 m. Bánh sau bên phải cách lề phải là 3,5 m và cách vạch dừng chờ đèn đỏ là 2,6 m;
+ Xe ô tô biển số 69B - X dừng, đầu xe quay về hướng vòng xoay G. Bánh trước bên phải cách lề phải là 6,9 m và cách bánh sau bên trái xe ô tô biển số 69B - X là 1,9 m. Bánh sau bên phải cách lề phải là 7,1 m;
+ Xe mô tô biển số 63H7 - Z ngã qua bên phải nằm dưới đầu xe bên phải xe ô tô biển số 69B - X, đầu xe quay về hướng vòng xoay G. Bánh trước cách lề phải là 7,4 m. Bánh sau cách lề phải là 7,2 m. Xe ngã còn để lại vết cày dài 19 m, đầu vết cày cách lề phải là 7,5 m, cuối vết cày trùng với v trí nơi xe ngã.
+ Phía dưới bên trái xe ô tô biển số 69B - Y có vết máu kích thước 2,5 m x 30 cm, cách lề phải là 6,2 m và cách bánh trước xe mô tô biển số 63H7-Z là 02 m.
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 22/02/2019 và ngày 25/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T xác đ nh như sau:
1. Đối với xe ô tô khách 43 chỗ, nhãn hiệu Thaco, biển số 69B – X:
Phía dưới đèn chiếu sáng phía trước bên trái có dấu cọ xát trầy xước sơn, còn dính sơn màu đỏ và nhựa màu đen không liên tục kích thước 50 cm x 38 cm, điểm cao nhất cách mặt đất 78 cm, còn dính mảnh kính màu trắng kích thước 0,1 cm x 0,1 cm.
2. Đối với xe ô tô khách 42 chỗ nhãn hiệu Thaco, biển số 69B – X:
- Mặt tiếp xúc với mặt đường và mặt trong bánh ngoài bên trái phía sau, mặt ngoài bánh trong bên trái dính tổ chức mô cơ thể nạn nh n không liên tục và vết máu.
- Đoạn phía sau bên trái th n xe trầy xước bong tróc sơn trên diện rộng (dấu vết cũ).
- Đoạn giữa bên phải trầy xước sơn trên diện rộng (dấu vết cũ).
3. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wavers, biển số 63H7 - Z:
- Bên trái khung kim loại bảo vệ cụm đèn tín hiệu phía sau có dấu cọ xát còn dính sơn màu xanh dương không liên tục kích thước 05 cm x 0,2 cm;
- Đèn xi nhan phía sau bên trái b vỡ kích thước 04 cm x 01 cm, cách mặt đất 75 cm;
- Bên trái biển số b vỡ kính, cong theo chiều từ sau tới trước, dính sơn màu xanh dương không liên tục kích thước 09 cm x 03 cm, điểm cao nhất cách mặt đất 60 cm;
- Phuộc sau bên trái cong theo chiều từ trái sang phải, mặt ngoài dính sơn màu xanh dương;
- Gác ch n trước bên trái b lệch theo chiều từ sau tới trước, phía dưới dính sơn màu xanh dương;
- Hai phuộc trước b lệch theo chiều từ trái sang phải;
- Mũi chắn bùn trước mài mòn;
- Đèn xin nhan trước bên phải b vỡ;
- Gương cH hậu bên phải mài mòn;
- Cánh bửng bên phải mài mòn;
- Lốc máy bên phải b nứt;
- Bên phải cần đạp phanh mài mòn;
- Gác ch n trước bên phải b gãy;
- Cao su th n xe bên phải mài mòn;
- Phía sau ống xả khói trầy xước.
Bản kết luận giám đ nh pháp y tử thi số 219/PC09-GĐPY ngày 01 tháng 03 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Dương kết luận đối với tử thi Trần Nguy n T3 như sau:
Biến dạng vùng bụng, bẹn, hạ v ; gãy 1/3 dưới xương cánh tay phải; vỡ xương khung chậu bên trái; dập rách bàng quang, đại trực tràng; dập rách ruột, mạc treo ruột. Nguyên nh n chết của nạn nh n Trần Nguy n Thiên Y là do b choáng đa chấn thương dẫn đến tử vong.
Bản kết luận giám đ nh số 60/GĐ-PC09 ngày 14 tháng 03 năm 2019, Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Dương kết luận đối với điểm va chạm đầu tiên và cơ chế hình thành dấu vết trên các phương tiện như sau:
- V trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 69B - X với xe mô tô biển số 63H7-Z là phần góc trước bên phải đầu xe ô tô va chạm với cạnh trái tay nắm sau yên, cạnh trái khung kim loại bảo vệ cụm đèn sau, cạnh trái biển số và đuôi chắn bùn sau xe mô tô.
- Giữa xe ô tô biển số 69B - X với xe mô tô biển số 63H7 - Z không va chạm với nhau.
- Cơ chế hình thành dấu vết giữa xe ô tô biển số 69B - X với xe mô tô biển số 63H7 - Z là: xe ô tô đang lưu thông trên đoạn đường Quốc lộ 13 hướng từ th xã B về thành phố T, khi đến đoạn đường thuộc khu phố X, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì xảy ra va chạm với xe mô tô đang lưu thông cùng chiều, phía trước trên làn đường ô tô sát dải ph n cách cố đ nh, làm xe mô tô đổ ngã qua phải và b xe ô tô đẩy trượt trên mặt đường, tạo các dấu vết trên phương tiện g y ra vụ tai nạn giao thông trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2020/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020, Tòa án nh n d n thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết đ nh:
1/ Tuyên bố b cáo Ngô Việt H phạm tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”.
2/ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt b cáo Ngô Việt H 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt b cáo thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 22/5/2020, b cáo Ngô Việt H có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện Kiểm sát nh n d n tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với b cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, b cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, b cáo cung cấp thêm tình tiết b cáo có con nhỏ, cha mẹ già nhưng đ y không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hành vi của b cáo điều khiển xe ô tô khách chở theo khoảng 40 hành khách nhưng chuyển làn không đảm bảo an toàn g y hậu quả chết người. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với b cáo là phù hợp. Hiện nay tình hình trật tự an toàn giao thông trên đ a bàn tỉnh Bình Dương đang di n biến phức tạp, người tham gia giao thông chưa chấp hành nghiêm Luật Giao thông đường bộ, việc cho b cáo hưởng án treo sẽ ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và kháng cáo xin hưởng án treo.
B cáo nói lời sau cùng: Quá trình làm việc b cáo có sai sót, mong Hội đồng xét xử cho b cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Đơn kháng cáo của b cáo được thực hiện trong thời hạn luật đ nh nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của b cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 22/02/2019, Ngô Việt H có hành vi điều khiển xe ô tô khách 43 chỗ, biển số 69B – X lưu thông trên Quốc lộ 13, đoạn thuộc khu phố X, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương chuyển làn đường nhưng tH chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên đã để phần góc trước bên phải đầu xe ô tô va chạm với cạnh trái sau yên khung kim loại bảo vệ cụm đèn sau, cạnh trái biển số và đuôi chắn bùn sau của xe mô tô biển số 63H7 - Z do bà Nguy n Th Thùy T2 điều khiển chở con là cháu Trần Nguy n T3, hậu quả làm xe của bà T2 và cháu Y ngã xuống đường b bánh xe sau bên trái của xe ô tô khách 42 chỗ biển số 69B – Y do ông Đào Bé T1 điều khiển lưu thông cùng chiều cán qua người dẫn đến tử vong.
3 Hành vi của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, x m phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. B cáo điều khiển xe ô tô chuyển làn xe không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn đã g y tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả nghiêm trọng chết người đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 13 của Luật Giao thông đường bộ. Đồng thời, g y t m lý bất an cho những người tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình an toàn giao thông đường bộ tại đ a phương, b cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý vì quá cẩu thả, b cáo có đầy đủ năng lực ch u trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy đ nh của pháp luật. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử b cáo về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ” theo quy đ nh tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Trong đơn kháng cáo, b cáo xin được hưởng án treo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, b cáo cung cấp các văn bản thể hiện b cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền đ a phương) nhưng đ y không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy đ nh của pháp luật. Căn cứ vào tình chất, mức độ hành vi phạm tội của b cáo, hành vi của b cáo điều khiển phương tiện giao thông là ô tô khách, trên xe chở khoảng 40 hành khách nhưng b cáo điều khiển xe chuyển làn đường tH chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, hành vi của b cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nh n th n tốt, có nơi cư trú rõ ràng nhưng việc cho b cáo hưởng án treo sẽ g y nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, không đáp ứng được tình hình phòng chống tội phạm tại đ a phương, đặc biệt là tội phạm vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ nên b cáo không đủ điều kiện hưởng án treo theo quy đ nh tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Ngh quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nh n d n tối cao. Do đó, kháng cáo của b cáo là không có cơ sở chấp nhận.
Đề ngh của Viện Kiểm sát nh n d n tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của b cáo là phù hợp.
Các phần quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên b cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Ngô Việt H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2020/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nh n d n thành phố T, tỉnh Bình Dương:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Ngô Việt H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt b cáo thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: B cáo Ngô Việt H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nh n d n tối cao (Vụ GĐKT I); - Viện kiểm sát nh n d n tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương; - Tòa án nh n d n thành phố T, tỉnh Bình Dương (2); - Viện kiểm sát nh n d n thành phố T, tỉnh Bình Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục Thi hành án d n sự thành phố T, tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Ủy ban nh n d n cấp xã nơi b cáo thường trú (thay văn bản thông báo); - Lưu VP (2), hồ sơ vụ án, NTN, 15. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Huy Toàn |