vanban.org

Bản án 117/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua

ngày 17 tháng 10 năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng L khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng vay tiền với bà Hồ Thị Lệ T"
  • Tòa quyết gì? Số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 117/2020/DS-ST
Ngày: 21-8-2020
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Lâm Sơn;

2. Ông Nguyễn Văn Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: không tham gia.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2020/TLST-DS ngày 11

tháng 6 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 402/2020/QĐXX-ST ngày 03 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng L; địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109

Trần Hưng Đạo, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo

pháp luật: Ông P, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông

L, chức vụ: tổ trưởng tổ khách hàng – phòng giao dịch P, An Giang (Văn bản ủy

quyền ngày 18 tháng 5 năm 2020); có mặt.

2. Bị đơn: Bà Hồ Thị Lệ T, sinh năm 1968; địa chủ cư trú: Ấp T, xã T,

huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn Ngân hàng L trình bày: Ngân

hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P với bà Hồ Thị Lệ T có ký kết

Hợp đồng tín dụng số: HĐTD9122017136 ngày 30/6/2017 về việc Ngân hàng L

cho bà T vay số tiền 250.000.000đồng, thời hạn vay 60 tháng, kể từ ngày

30/6/2017 đến ngày 30/6/2022; Lãi suất cho vay là 11,5%/năm, lãi suất quá hạn

150% lãi suất cho vay trong hạn, phương thức trả nợ gốc, lãi: phân làm 60 kỳ trả

nợ, trong đó 59 kỳ đầu trả tiền gốc là 4.167.000đồng cố định vào ngày 20 hàng tháng (bắt đầu và tháng 7/2017) và kỳ cuối trả số tiền còn lại vào ngày đến hạn; tiền lãi vay được trả vào ngày 20 hàng tháng, trong 59 kỳ đầu (bắt đầu và tháng 7/2017) và phần lãi còn lại trả vào ngày đáo hạn theo dư nợ thực tế.

Khi thực hiện hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho

bà T, quá trình thực hiện hợp đồng, bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay; ngân hàng có thông báo cho bà T và thông báo đến trường học nơi bà T công tác nhưng bà vẫn cố tình trì hoãn không thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị Lệ T số tiền nợ gốc 119.540.691đồng, lãi quá hạn đến ngày 14/5/2020 là 3.064.568đồng, lãi phạt gốc 236.651đồng, tổng cộng vốn và lãi là 122.866.159đồng, yêu cầu tính lãi phát sinh thực tế theo mức lãi suất nợ quá hạn cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng; Yêu cầu bà Hồ Thị Lệ T chuyển toàn bộ các khoản trợ cấp ngành, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp từ Bảo hiểm xã hội và các nguồn trợ cấp khác (nếu có) về tài khoản ngân hàng L để trả nợ vay; khi nào bà Hồ Thị Lệ T thực hiện thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P bao gồm số tiền nợ gốc, nợ lãi và lãi phát sinh thực tế cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng thì Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P sẽ tiến hành tất toán khoản vay của bà Hồ Thị Lệ T. Tại phiên tòa, ông P là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng L xác định, Ngân hàng yêu cầu bà Hồ Thị Lệ T số tiền nợ gốc 119.540.678đồng, lãi trong hạn là 6.281.418đồng, lãi quá hạn đến ngày xét xử là 1.156.053đồng, lãi phạt 139.447đồng, tổng cộng là 127.117.596 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hồ Thị Lệ T gửi ý kiến cho Tòa án

với nội dung: Đồng ý với số tiền mà Ngân hàng báo và mong rằng Tòa án thương tình, giúp đỡ, chiếu cố cho bà vì bà rất khó khăn, mỗi tháng đi thăm con tốn khoảng 8.000.000đồng nên lương bà không còn đủ tiền để nộp ngân hàng. Kính xin Tòa án thương lượng ngân hàng giúp giải quyết cho bà được tiếp tục nộp ngân hàng số tiền theo quy định hàng tháng và bà sẽ nộp đủ số tiền mà bà chưa nộp mấy tháng nay. Tại phiên tòa, bà Hồ Thị Lệ T thống nhất còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc 119.540.678đồng, lãi trong hạn là 6.281.418đồng, lãi quá hạn đến ngày xét xử là 1.156.053đồng, lãi phạt 139.447đồng, tổng cộng là 127.117.596 đồng, xin được trả dần mỗi tháng 5.200.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng L khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về

hợp đồng tín dụng vay tiền với bà Hồ Thị Lệ T; bà T vay tiền của Ngân hàng L để sử dụng vào việc tiêu dùng mua sắm trang thiết bị, nội thất gia đình. Đồng thời, bà T có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về nội dung: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng L với bà Hồ Thị Lệ

T được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và được thực hiện giải ngân.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Hồ Thị Lệ T vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền

theo định kỳ, nên Ngân hàng L khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị Lệ T số tiền nợ gốc

119.540.678đồng, lãi trong hạn là 6.281.418đồng, lãi quá hạn đến ngày xét xử là

1.156.053đồng, lãi phạt 139.447đồng, tổng cộng là 127.117.596 đồng; bà Hồ

Thị Lệ T thống nhất còn nợ ngân hàng số tiền tổng cộng là 127.117.596 đồng,

xin được trả dần mỗi tháng 5.200.000đồng. Yêu cầu xin trả dần của bà T không

được người đại diện của Ngân hàng đồng ý và Hội đồng xét xử cũng không có

căn cứ xem xét cho trả dần mà chỉ buộc thực hiện nghĩa vụ là phù hợp với quy

định của pháp luật. Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 282 Bộ

luật dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Ngân hàng L yêu cầu bà Hồ Thị Lệ T trả số tiền vốn vay; đối với tiền lãi phát

sinh thì, theo Hợp đồng tín dụng số: HĐTD9122017136 ngày 30/6/2017, được

giao kết giữa bà Hồ Thị Lệ T và Ngân hàng L, theo đó các bên thỏa thuận tiền

lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa

thuận bằng 10%/năm; tiền lãi các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp

luật được hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày

11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phù

hợp với án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016, nên yêu cầu tính lãi của Ngân hàng đến

ngày xét xử được Tòa án chấp nhận và tiền lãi phát sinh được tính kể từ ngày

tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi theo hợp đồng tín dụng.

Đối với việc Ngân hàng L yêu cầu bà Hồ Thị Lệ T chuyển toàn bộ các

khoản trợ cấp ngành, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp từ Bảo hiểm xã hội và các

nguồn trợ cấp khác (nếu có) về tài khoản ngân hàng L để trả nợ vay; khi nào bà

Hồ Thị Lệ T thực hiện thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L – Chi

nhánh An Giang, phòng giao dịch P bao gồm số tiền nợ gốc, nợ lãi và lãi phát

sinh thực tế cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng thì Ngân

hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P sẽ tiến hành tất toán khoản

vay của bà Hồ Thị Lệ T là không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39, 147 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các

Điều 280, 282 Bộ luật dân sự; Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ:

Số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua

ngày 17 tháng 10 năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng L.

1) Buộc bà Hồ Thị Lệ T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng L số tiền vốn gốc

còn nợ là 119.540.678đồng (Bằng chữ: Một trăm mười chín triệu năm trăm bốn mươi nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng), lãi trong hạn là 6.281.418đồng (Bằng chữ: Sáu triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn bốn trăm mười tám đồng), lãi quá hạn đến ngày xét xử là 1.156.053đồng (Bằng chữ: Một triệu một trăm năm mươi sáu nghìn không trăm năm mươi ba đồng), lãi phạt 139.447đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi bảy đồng);

2) Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Hồ Thị Lệ T có nghĩa

vụ trả cho Ngân hàng L số tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tính dụng số HĐTD9122017136 ngày 30/6/2017;

3) Đình chỉ giải quyết yêu cầu của Ngân hàng L yêu cầu bà Hồ Thị Lệ T

chuyển toàn bộ các khoản trợ cấp ngành, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp từ Bảo hiểm xã hội và các nguồn trợ cấp khác (nếu có) về tài khoản ngân hàng L để trả nợ vay; khi nào bà Hồ Thị Lệ T thực hiện thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P bao gồm số tiền nợ gốc, nợ lãi và lãi phát sinh thực tế cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng thì Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P sẽ tiến hành tất toán khoản vay của bà Hồ Thị Lệ T do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

4) Về án phí: Bà Hồ Thị Lệ T phải chịu án phí sơ thẩm là

6.356.000đồngđồng (Bằng chữ: Sáu triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn đồng); Ngân hàng L được nhận lại số tiền 3.071.000đồng (Ba triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008552 ngày 11/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;

5) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương

sự, đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ