- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Hoàng Xuân T 1 năm 8 tháng (Một năm, tám tháng) tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 05/7/2019).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNTHÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2019/HSST Ngày 16-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Sỹ Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Quỳnh,
Ông Phạm Xuân Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền - Chức vụ kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ (chiều) ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2019/HSST, ngày 26 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Hoàng Xuân T (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 17 tháng 10 năm 1973, tại xã TT, huyện YT, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Xóm H, xã TT, huyện YT, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: lái xe, dân tộc: kinh, tôn giáo: không, trình độ văn hoá: lớp 9/12, Đảng, đoàn thể: không; con ông: Hoàng Xuân Đ, sinh năm 1940 và bà Hồ Thị C, sinh năm 1942; Anh chị em ruột có 6 người, bị cáo con thứ ba trong gia đình.Vợ: Phan Thị H, sinh năm 1974; có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: không. Danh bản, chỉ bản số: 332, Công an huyện Yên Thành lập ngày 06/7/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/7/2019, sau đó ngày 11/7/2019 bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Nghệ An cho đến nay (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Phan Lê H – sinh năm 1966.
Trú tại: Xóm H, xã TT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 50 phút, ngày 05 tháng 7 năm 2019, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại xóm H, xã TT, huyện YT về việc có đối tượng đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà ở của mình, vì vậy, Công an huyện Yên Thành phối hợp với Công an xã TT tiến hành kiểm tra và khám xét tại nhà Hoàng XuânT. Quá trình khám xét phát hiện trên đầu gường tại phòng ngủ của T có hai đoạn ống nhựa màu trắng. Bên trong đoạn ống nhựa thứ nhất có chứa 09 viên nén hình tròn màu đỏ, bên trong đoạn ống nhựa thứ hai chứa 10 viên nén hình tròn màu đỏ (nghi ma túy) Cơ quan công an đã niêm phong vật chứng đưa người và tang vật về trụ sở công an huyện để làm rõ.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành, Hoàng Xuân T khai nhận, bị cáo hợp đồng lái xe cho Công ty Vận tải TPB có trụ sở tại tỉnh Bắc Giang. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 01/7/2019, khi một mình điều khiển xe Container từ Lào về Việt Nam. Do mắc nghiện ma túy từ tháng 6 năm 2018, T đã gặp một người đàn ông người Lào (bị cáo không biết rõ lai lịch người này) và hỏi mua hồng phiến. Người đàn ông này đã bán cho T 3 đoạn ống nhựa màu trắng (loại ống hút đồ uống) bên trong chứa các viên hồng phiến (ma túy tổng hợp) khi mua bị cáo không biết cụ thể được bao nhiêu viên, với giá 300 Kíp (tiền Lào), giá trị quy đổi khoảng 800.000 VND. Sau khi mua được ma túy, T đem về nhà cất dấu để sử dụng và đã sử dụng hết hồng phiến trong một đoạn ống nhựa thì bị bắt.
Ngày 06 tháng 7 năm 2019, Công an huyện Yên Thành đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong lại vật chứng. Sau khi loại bỏ bao bì, số viên nén hình tròn màu đỏ thu giữ của Hoàng Xuân T có tổng khối lượng là 1,935 gam. Cơ quan điều tra đã lấy 2 viên ở hai đoạn ống nhựa (ký hiệu M1 và M2) để gửi giám định còn lại 1,735 gam (Một phẩy, bảy trăm, ba mươi lăm gam).
Ngày 08 tháng 7 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã Quyết định trưng cầu giám định về loại ma túy và khối lượng ma túy đã thu giữ của Hoàng Xuân T. Tại kết luận giám định số 1012/KL-PC09(MT) ngày 08 tháng 7 năm 2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: các mẫu viên nén hình tròn màu đỏ (ký hiệu M1và M2) thu giữ của Hoàng Xuân T gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có khối lượng 1,935 gam (một phẩy, chín trăm, ba mươi lăm gam), mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt đối với Hoàng Xuân T từ 24 đến 30 tháng tù. Do bị cáo là người mắc nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Về vật chứng là Methamphetamine, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí toà án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ buộc tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai, bị cáo Hoàng Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được và kết luận giám định là hoàn toàn phù hợp với nhau. Cơ quan điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên đã tiến hành tố tụng điều tra như lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; ra các quyết định; lấy lời khai, hỏi cung bị can; trưng cầu giám định, kết luận giám định theo đúng các quy định của pháp luật. Xét thấy đã có đủ căn cứ kết luận Hoàng Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố.
Hoàng Xuân T đã tàng trữ trái phép chất ma túy là Methamphetamine có khối lượng 1,935 gam (một phẩy, chín trăm, ba mươi lăm gam), chính vì vậy,Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng mức.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người mắc nghiện ma túy nên đã mua, tàng trữ để phục vụ cho nhu cầu mắc nghiện của mình. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là hành vi bị nhà nước nghiêm cấm. Khối lượng Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ 1,935 gam là định lượng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, mẹ bị cáo bà Hồ Thị C là người có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, vì vậy cần coi đây là những tình tiết giảm nhẹ như quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người mắc nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của Hoàng Xuân T hai đoạn ống nhựa màu trắng chứa 19 viên nén hình tròn màu đỏ là Methamphetmine có khối lượng là 1,935 gam (một phẩy, chín trăm, ba mươi lăm gam) đã lấy 2 viên khối lượng 0,2 gam để giám định, còn lại 17 viên, khối lượng 1,735 gam (một phẩy, bảy trăm, ba mươi lăm gam). Số vật chứng còn lại đã được niêm phong trong một bì thư và được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý. Xét vật chứng là Methamphetmine thu giữ của bị cáo là loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Xử phạt Hoàng Xuân T 1 năm 8 tháng (Một năm, tám tháng) tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 05/7/2019).
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 1,735 gam (Một phẩy, bảy trăm, ba mươi lăm gam) Methamphetamine thu giữ của Hoàng Xuân T. Vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành quản lý. (Chi tiết vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/9/2019 giữa Công an huyện Yên Thành và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành)
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Hoàng Xuân T phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND H. Yên Thành; - VKSND tỉnh Nghệ An - THADS Yên Thành; - THA hình sự; - Các bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Sỹ Tiến |