vanban.org

Bản án 117/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Giàng A K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Giàng A K 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 117/2018/HSST
Ngày 29 - 5 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Tiến Quynh và bà Nguyễn Thị Yên.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Giàng A K, sinh năm 1985 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tiểu khu P, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giàng A S (hiện đang đi chấp hành án) và bà Tráng Thị C; bị cáo có vợ là Cứ Thị S, có 04 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 10/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Đe dọa giết người (Đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2018. Có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Hoàng Mạnh T, sinh năm 1998. Vắng mặt.

- Anh Hà Trọng Đ, sinh năm 1998. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Danh M, sinh năm 1990. Vắng mặt.

- Chị Lường Thị H, sinh năm 1988. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 17h 15 phút ngày 22/01/2018 tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu P, thị trấn N phát hiện bắt quả tang tại nhà ở của Giàng A K có bốn đối tượng là Hoàng Mạnh T, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Hà Trọng Đ sinh năm 1998. Nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Lường Thị H, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Nguyễn Danh M, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, trong đó Hoàng Mạnh T và Hà Trọng Đ vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xong, vật chứng thu giữ gồm một bật lửa ga mầu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 mảnh ni lon mầu xanh.

Kiểm tra Lường Thị H, Nguyễn Danh M thu giữ trong lòng bàn tay của Lường Thị H có 01 gói ni lon, bên trong có một viên nén mầu hồng, trên bề mặt có chữ WY Hà khai nhận đó là Hồng phiến ma túy tổng hợp của Hà và Minh vừa mua được với Giàng A K với giá 150.000đ.

Thu giữ của Giàng A K 50.000đ (Năm mươi ngàn đồng).

Căn cứ vào hành vi vi phạm và tang vật thu giữ tổ công tác lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Khua, Hà và Minh bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tiến hành điều tra làm rõ.

Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của Nguyễn Danh M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa có BKS 26K3 – 1624, 01 đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Danh Hòa.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 22/01/2018, Giàng A K đang ở nhà thì có Hoàng Mạnh T và Hà Trọng Đ đến hỏi mua hê rô in với K, K nhất trí đi tìm mua hộ, T đưa cho K 250.000đ, K nhận tiền và đi tìm mua ma túy. Khi K vừa đi ra đến cổng nhà thì gặp Nguyễn Danh M và Lường Thị H đến hỏi mua hồng phiến, H đưa cho K 150.000đ, K nhận tiền của H rồi tiếp tục đi tìm mua ma túy.

Khua đi bộ ra đường dân sinh thuộc Tiểu khu P, thị trấn N thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, K đã hỏi và mua được của người phụ nữ đó 01 gói hê rô in và 01 gói nilon bên trong đựng 01 viên hồng phiến với giá 350.000đ. Sau khi mua được ma túy, K mang về nhà đưa cho T 01 gói hê rô in và đưa cho H 01 gói nilon bên trong đựng 01 viên hồng phiến rồi K đi xuống bếp nấu cơm còn T, Đ, H, M vẫn ngồi ở giường nhà K.

Sau khi nhận hê rô in T và Đ lấy ra sử dụng K hoàn toàn không biết, H và M chưa sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Số tiền 50.000đ thu giữ của K là tiền K bán ma túy mà có.

Ngày 22/01/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Phòng PC54 - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng 01 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của đối tượng H và M có khối lượng 0,09gam. Lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, xác định có phải ma túy không, thuộc loại chất ma túy gì, khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu ? Mẫu ký hiệu “H”. Tại kết luận giám định số 287 ngày 28/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “ Mẫu gửi giám định ký hiệu H là chất ma túy. Loại chất Methamphetamine. Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được 0,09 gam, loại chất Methamphetamine”.

Bản cáo trạng số 70/CT-VKSMC ngày 14/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Giàng A K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A K từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ thu giữ của Giàng A K.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu thu giữ vụ Giàng A K; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ của Hà Trọng Đ bên trong đựng 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Nguyễn Danh M; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hoàng Mạnh T; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hà Trọng Đ; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Thị H.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A K khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong xác định tiền, biên bản xét nghiệm ma túy, Kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 22/01/2018 Giàng A K đã có hành vi bán trái phép 01 gói hê rô in cho Hoàng Mạnh T với giá 250.000đ và bán trái phép 01 viên Methamphetamine có khối lượng 0,09gam cho Lường Thị H với giá 150.000đ để kiếm lời số tiền 50.000đ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã có 01 tiền án: Ngày 10/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Đe dọa giết người đã được xóa án tích.

Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với số vật chứng thu giữ gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu thu giữ vụ Giàng A K; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ của Hà Trọng Đ bên trong đựng 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Nguyễn Danh M; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hoàng Mạnh T; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hà Trọng Đ; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Thị H không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe máy HonDa – BKS 26K3 – 1624, 01 đăng ký xe máy mang tên Nguyễn D thu giữ của Nguyễn Danh M, quá trình điều tra xác định chiếc xe máy đó là của ông Nguyễn D bố đẻ của Nguyễn Danh M, việc M lấy xe đi mua ma túy ông D không biết, ngày 26/02/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu đã làm thủ tục giao trả cho ông D quản lý sử dụng là đúng pháp luật nên không đề cập việc giải quyết.

Đối với số tiền 50.000đ thu giữ của Giàng A K là tiền do phạm tội mà có. Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lường Thị H và Nguyễn Danh M chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 12/3/2018 Công an huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Mạnh T và Hà Trọng Đ là vi phạm hành chính, ngày 12/3/2018 Công an huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Mạnh T và Hà Trọng Đ tại nhà ở của K, quá trình điều tra xác định K hoàn toàn không biết việc T và Đ sử dụng ma túy tại nhà K, do vậy không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với Giàng A K về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Giàng A K (như bị cáo khai). Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam sau phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Giàng A K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Giàng A K 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/01/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ thu giữ của Giàng A K.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu thu giữ vụ Giàng A K; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ của Hà Trọng Đ. SN: 1998 trú tại TK C, TT N, Sơn La. Bắt quả tang ngày 22/1/2018 (bên trong đựng 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 mảnh nilon màu xanh); 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Nguyễn Danh M ngày 22/01/2018; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hoàng Mạnh T ngày 22/01/2018; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hà Trọng Đ ngày 22/01/2018; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Thị H.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Giàng A K phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ