vanban.org

Bản án 117/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù, tính từ ngày 24/9/2018. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117 /2018/ HSST
Ngày 29 -11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hữu Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng

Bà Trương Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Duy Toàn là Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa có: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2018/ HSST ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: Tý Thanh Vinh;

Sinh ngày: 03.10.1998 tại Đà Nẵng; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 78, P. H, Q. L, TP. Đ.

Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không.

Cha: Không xác định; Mẹ: Nguyễn Thị S (SN: 1973).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 19.9.2016 bị Toà án nhân dân huyện Hoà Vang tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành án xong ngày 07.8.2017.

Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 24.9.2018.

* Người bị hại:

+ Ông Lê Khắc H – sinh năm 1999

Nơi ĐKHKTT: Thôn Ư, xã P, huyện P, tỉnh T, vắng mặt, không có lý do.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Thành T - Sinh ngày: 10.01.1991. Trú tại: 21 Đoàn Phú Tứ, P. H, Q. L, TP. Đ, có mặt.

Anh Lê Quốc H - Sinh ngày: 10.7.1987. Trú tại: Tổ 57, phường H, quận L, TP. Đ, có mặt.

Anh Huỳnh Phúc  - Sinh ngày: 28.9.2000 . Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, TP. Đ, có mặt.

Anh Phạm Công Bô - Sinh ngày: 01.01.1999. Trú tại: Tổ 90, phường H, quận L, TP. Đ, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Thanh H - Sinh năm: 1994. Trú tại: 59 N, phường H, quận L, Tp Đ, vắng mặt, không có lý do.

+ Ông Phan Văn T - Sinh năm: 1997. Trú tại: Tổ 90 phường H, quận L, TP Đ, vắng mặt, không có lý do.

+ Ông Phạm Thanh V - Sinh năm: 1997. Trú tại: Tổ 93 phường H, quận L, TP, vắng mặt, không có lý do.

+ Ông Nguyễn Trọng Phi H - Sinh năm: 1995. Trú tại: K482/10 T phường H, quận L, TP Đ, vắng mặt, không có lý do.

* Người làm chứng:

+ Ông Trần Hữu Q - Sinh năm: 1988. Trú tại: K2/9 Đ, phường H, quận L, TP Đ vắng mặt, không có lý do.

+ Ông Phan Phú T - Sinh năm: 1998. Trú tại: K2/9 Đ, phường H, quận L, TP Đ, vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

ơ

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 13.4.2018, Nguyễn Thành T, Huỳnh Phúc Â, Trần Văn H đang ở tại phòng trọ của T tại 21 Đoàn Phú Tứ, P. Hoà Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng bị một nhóm thanh niên chưa rõ lai lịch dùng chai thuỷ tinh, gạch, đá ném vào phòng trọ và đuổi đánh T rồi bỏ đi. Bị đuổi đánh, T bỏ chạy rồi điện thoại cho Nguyễn Văn L, Lê Quốc H đến phòng trọ của mình để xem xét tình hình, H đồng ý và rủ thêm Nguyễn Trọng Phi H, Phạm Thanh V và Phạm Công B chạy đến phòng trọ của T để xem sự việc (khi đi Hchỉ nói là đi cùng Hcó việc). Sau đó, T chạy đến khu vực karaoke Thảo Vân ở đường Ninh Tốn, P. Hoà Khánh Bắc thì gặp H, R và nhóm bạn của H (đều chưa rõ lai lịch, địa chỉ) vừa hát karaoke Thảo Vân ra và kể cho H, R về việc nhóm thanh niên đuổi đánh và nhờ nhóm của H, R tìm lại nhóm thanh niên lạ mặt để đánh lại. Còn H điều khiển xe mô tô BKS 43F1- 278.62 chở B, H, V đến phòng trọ của Tg thì không gặp ai nên đi ra khu vực karaoke Thảo Vân gặp T và nhóm của H. T nói nhóm của H về trước phòng trọ của H. Còn T và nhóm H về lại phòng trọ của T lấy 03 cây mã tấu T cất sẵn trong phòng trọ đưa cho cả nhóm rồi đi sang phòng trọ của H tại K118 Ngô Thì Nhậm, P. Hoà Khánh Nam, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng. Nguyễn Văn L, Â, H sau đó cũng tập hợp lại tại phòng trọ của H và tại đây T nói lại về việc bị nhóm thanh niên nghi là ở Hoà Liên đánh.

Đến khoảng 02h00’ ngày 14.4.2018, T nhận được tin có nhóm người giống nhóm đã ném gạch đá vào phòng trọ của mình nên nói cả nhóm đi tìm nhóm kia với mục đích để đánh trả thù, biết là đi tìm nhóm thanh niên kia để đánh nhau nhưng Â, H, L, B, H vẫn đồng ý đi. Huỳnh Phúc  điều khiển xe mô tô không rõ BKS của Trần Văn H chở Nguyễn Thành T và Trần Văn H ngồi sau cầm hung khí, Lê Quốc H điều khiển xe mô tô BKS 43L1- 7106 chở Lê Quốc H, Nguyễn Văn L cầm theo 01 cây mã tấu đi cùng xe với những người khác cầm theo hung khí để đi đánh nhau, còn Phạm Thanh V và Nguyễn Trọng Phi H chỉ đến ngồi chơi sau đó đi về không tham gia đi đánh nhau với nhóm của T. Khi cả nhóm đến khu vực cổng chợ Hoà Khánh thì T thấy anh Lê Khắc H đang đi cùng nhóm bạn, nghi đây là nhóm ném gạch đá vào phòng mình nên T cùng cả nhóm đuổi theo. H chạy trốn đến khu vực dãy trọ tại K2/09 Đồng Kè, P. Hoà Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng thì T đuổi kịp và bị T dùng mã tấu chém liên tiếp 3 đến 4 nhát trúng vào tay của anh H gây thương tích, còn L cũng cùng đuổi theo với T và cả nhóm nhưng chỉ đứng ngoài hỗ trợ không tham gia chém. Sau khi chém anh H, T và cả nhóm đi ra đến đường Âu Cơ thì T thấy anh Đặng Thanh H điều khiển xe ô tô hiệu Mazda 2 BKS 43A-203.62 đi ngang qua bên trong có chở nhiều người, nghi bên trong có người của nhóm ném gạch đá nên T chặn xe lại và dùng mã tấu chém nhiều nhát lên kính chắn gió, kính chiếu hậu, kính chắn gió sau, nắp capo xe làm hư hỏng xe, hoảng sợ nên anh H điều khiển xe bỏ chạy. Thấy T đập phá xe ô tô, H lên tiếng can ngăn nhưng không được nên cùng với B chạy xe về phòng trọ của H, còn nhóm của T đuổi theo xe ô tô của anh H không được nên bỏ về. Sau khi gây án, Nguyễn Văn L đã bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 24.9.2018 thì bị bắt theo Lệnh truy nã số 05/CSĐT ngày 27.8.2018. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 141/TgT ngày 12.6.2018 của Trung tâm Pháp y- Sở Y tế thành phố Đà Nẵng kết luận anh Lê Khắc H bị: Vết thương phức tạp cổ bàn tay hai bên: Đứt gân duỗi ngón II, III, IV, V bàn tay hai bên, đứt bán phần dẫn ngón I, gãy xương đốt gần ngòn III, IV bàn tay trái; tỉ lệ thương tích được xếp là 24% (hai mươi bốn phần trăm).

Bản cáo trạng số 109/CT - VKS ngày 31/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố:

- Bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ, Khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại các Điểm a, i, Khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù, tính từ ngày 24/9/2018.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý trong bản án 116/2018/HSST ngày 29/11/2018 nên không tiếp tục đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Thành T, Lê Quốc H, Phạm Công B, Huỳnh Phúc  đã cùng nhau tự nguyện khắc phục bồi thường với số tiền là: 69.716.370 đồng cho bị hại Lê Khắc H, Nguyễn Thành T bồi thường 42.220.000 đồng cho bị hại Đặng Thanh H. Các bị hại đã nhận đủ tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Liên Chiểu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do có mâu thuẫn với một nhóm thanh niên chưa rõ lai lịch nên Nguyễn Thành T rủ Nguyễn Văn L cùng Lê Quốc H, Huỳnh Phúc Â, Phạm Công B, Trần Văn H đi đánh trả thù. Bị cáo L đồng ý và cầm theo mã tấu do T chuẩn bị trước. Đến khoảng 02h00’ ngày 14/4/2018, T cùng cả nhóm đi đến khu vực cổng chợ Hoà Khánh, T thấy anh Lê Khắc H và nghĩ anh H là người đã gây sự với mình nên cùng cả nhóm đuổi đánh anh Lê Khắc H. Khi đến dãy trọ tại K2/09 Đồng Kè, phường Hoà Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thành T có hành vi dùng mã tấu chém liên tiếp 3 đến 4 nhát trúng vào tay của anh H gây thương tích với tỉ lệ 24%, còn Nguyễn Văn L cùng H, Â, B, H đứng ngoài hỗ trợ. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo L đã cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích ” với hai tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ, hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi nghe T khởi xướng, L đồng ý, tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù, L không trực tiếp gây thương tích cho anh H nhưng L là người cầm theo hung khí, hổ trợ về mặt tinh thần để T thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi gây án, bị cáo còn bỏ trốn gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do đó, cần xét xử bị cáo L một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi để giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và biết ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên HĐXX sẽ áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, Huỳnh Phúc  khai ngoài bị cáo Tg còn có bị cáo L đập xe ô tô Mazda của anh H nhưng bị cáo L không thừa nhận. Đồng thời, Lê Quốc H Phạm Công B, Nguyễn Thành T đều xác định chỉ có một mình T làm hư hỏng tài sản của anh H nên HĐXX không đủ cơ sở để xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo L về tội cố ý làm hư hỏng tài sản với vai trò đồng phạm bị cáo T.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù, tính từ ngày 24/9/2018.

2. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trọng hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ