vanban.org

Bản án 116/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 25/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Kh phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Kh 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 17/11/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kh - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2026/HS-ST
Ngày 25-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Khôi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Đình Bảy

Bà Phan Thị Thanh Sen

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1010/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Ngọc Kh; giới tính: nam; sinh ngày 18/5/1987, tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: khối phố Hương Ch, phường Hương Tr, thành phố Đà N; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Võ Thanh H (đã chết) và bà Trần Thị H (sinh năm 1964); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 20/01/2005, bị TAND thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 22/8/2006, bị Công an thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi đánh nhau.

- Ngày 05/6/2007, bị TAND thành phố Tam Kỳ (cũ) xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 06/5/2010, bị TAND thành phố Tam Kỳ (cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 03/6/2011, bị UBND thành phố Tam Kỳ (cũ) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 3538/QĐ-UBND.

- Ngày 08/9/2013, bị TAND thành phố Tam Kỳ (cũ) xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/11/2025; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tam Kỳ - Công an thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Ngọc Kh là đối tượng thuộc diện đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy theo Thông báo chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 09/5/2025 của Cơ sở điều trị Methadone thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật Quảng Nam, ngày bắt đầu chấm dứt điều trị: 10/5/2025. Khoảng 12 giờ ngày 08/10/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Võ Ngọc Kh hỏi mượn xe máy (không rõ nhãn hiệu, biển số) của một người đàn ông làm cùng tại nơi làm việc ở phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng để đi mua thuốc hút. Kh điều khiển xe máy đến ngã 4 đường Nguyễn Hoàng - Trần Cao Vân thuộc phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) đeo khẩu trang, khoảng 50 tuổi đang đi bộ. Kh đi lại hỏi mua ma túy đá với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), người đàn ông đồng ý bán và giao ma túy được đựng sẵn trong ống nhựa hàn kín hai đầu cho Kh. Kh đưa tiền mặt rồi cầm gói ma túy và điều khiển xe máy đến một rừng keo trên đường Nguyễn Văn Trỗi thuộc khối phố An Hà Đông, phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng để sử dụng. Tại đây, Kh lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy được cất giấu tại một gốc cây ra, rồi lấy ma túy vừa mua mở một đầu ra cho ma túy vào nồi (phễu bằng thủy tinh có một nồi hình cầu), lấy bình nhựa (loại bình đựng nước ngọt trà xanh không độ) cho nước lọc vào, trên nắp đục 02 lỗ hình tròn một lỗ cắm ống hút bằng nhựa, một lỗ cắm phễu thủy tinh. Sau đó, Kh dùng bật lửa đốt nóng nỏ thủy tinh (nồi) cho ma túy đá bay hơi lên rồi dùng miệng ngậm ống hút và hút ma túy đá vào trong cơ thể. Sử dụng xong ma túy, Kh để bộ dụng cụ lại, điều khiển xe máy đi về trả cho người đàn ông rồi tiếp tục làm việc buổi chiều.

Ngày 10/10/2025, Công an xã Tây Hồ triệu tập Huỳnh Tấn Sự (sinh năm 1990, trú thôn Tân Phú, xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng) là người đang tham gia điều trị thay thế cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone đến làm việc, qua test nhanh ma túy phát hiện Huỳnh Tấn Sự dương tính với ma túy đá (loại Methamphetamine). Sự khai nhận sử dụng trái phép chất ma túy đá tại nhà và có hành vi bán ma túy đá cho Võ Ngọc Kh. Cùng ngày, Công an xã Tây Hồ tiến hành triệu tập Võ Ngọc Kh về làm việc. Qua làm việc, Kh khai nhận có sử dụng ma túy đá một mình tại khu vực rừng keo trên đường Nguyễn Văn Trỗi, phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng vào trưa ngày 08/10/2025. Tiến hành thử nước tiểu phát hiện sử dụng ma túy, kết quả: Võ Ngọc Kh dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Công an xã Tây Hồ lập biên bản thu mẫu nước tiểu của Võ Ngọc Kh để phục vụ công tác giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 1168/KL-KTHS ngày 27/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng kết luận: trong mẫu nước tiểu của Võ Ngọc Kh gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine.

Tiến hành kiểm tra, xác định hiện trường nơi Võ Ngọc Kh khai sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực rừng keo thuộc khối phố An Hà Đông, phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng, Công an xã Tây Hồ phát hiện và tạm giữ 01 (một) vỏ chai nhựa trong suốt, rỗng ruột, loại 500ml, không có nắp, đầu chai có một vòng nhựa màu xanh.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

- 01 (một) túi niêm phong ký hiệu NS2 24063900 tại miệng túi có dán băng keo màu đỏ. Trên túi niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên, bên trong túi niêm phong có toàn bộ vỏ bao gói mẫu nước tiểu được hoàn trả sau giám định.

- 01 (một) vỏ chai nhựa trong suốt, rỗng ruột, loại 500ml không có nắp, đầu chai có một vòng nhựa màu xanh (đã được niêm phong).

Quá trình điều tra, bị cáo Võ Ngọc Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ và tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Tại bản Cáo trạng số: 64/CT-VKSDNG-KV ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Võ Ngọc Kh về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Kh phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Kh từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu NS2 24063900 tại miệng túi có dán băng keo màu đỏ. Trên túi niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên, bên trong túi niêm phong có toàn bộ vỏ bao gói mẫu nước tiểu được hoàn trả sau giám định; 01 (một) vỏ chai nhựa trong suốt, rỗng ruột, loại 500ml không có nắp, đầu chai có một vòng nhựa màu xanh (đã được niêm phong).

- Về các nội dung khác liên quan: Đề nghị giải quyết theo nội dung cáo trạng đã đề cập.

Bị cáo Võ Ngọc Kh nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Ngọc Kh thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết quả giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Võ Ngọc Kh thuộc diện đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy nhưng vào ngày 08/10/2025, tại khu vực rừng keo thuộc khối phố An Hà Đông, phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng, Võ Ngọc Kh đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Kết luận giám định trong mẫu nước tiểu của Võ Ngọc Kh có chứa chất ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Ngọc Kh đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do đó, Bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, ma tuý gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, làm hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác; gây mất trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án Huỳnh Tấn Sự, Nguyễn Thị My mua bán trái phép chất ma túy đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết và được Công an xã Tây Hồ xác nhận nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, i, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình.

Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu: 04 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau và 01 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã được phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục bị cáo, cho bị cáo thời gian cai nghiện ma túy đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm theo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) túi niêm phong ký hiệu NS2 24063900 tại miệng túi có dán băng keo màu đỏ. Trên túi niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên, bên trong túi niêm phong có toàn bộ vỏ bao gói mẫu nước tiểu được hoàn trả sau giám định; 01 (một) vỏ chai nhựa trong suốt, rỗng ruột, loại 500ml không có nắp, đầu chai có một vòng nhựa màu xanh (đã được niêm phong): xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Những vấn đề khác liên quan trong vụ án:

- Đối với người đàn ông không rõ lai lịch bán ma túy cho Võ Ngọc Kh vào ngày 08/10/2025 tại khu vực ngã tư Nguyễn Hoàng - Trần Cao Vân, phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng tại khu vực trên không có dữ liệu camera an ninh, do không xác định được đối tượng nêu trên nên không có cơ sở để xử lý.

- Võ Ngọc Kh khai mượn xe mô tô của một người làm cùng nhưng không biết rõ lai lịch của người này, không nhớ biển số xe. Do không xác định được đặc điểm, nguồn gốc và chủ sở hữu phương tiện nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với xe mô tô nêu trên là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Võ Ngọc Kh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Kh phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Kh 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 17/11/2025).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu NS2 24063900 tại miệng túi có dán băng keo màu đỏ. Trên túi niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên, bên trong túi niêm phong có toàn bộ vỏ bao gói mẫu nước tiểu được hoàn trả sau giám định; 01 (một) vỏ chai nhựa trong suốt, rỗng ruột, loại 500ml không có nắp, đầu chai có một vòng nhựa màu xanh (đã được niêm phong).

(Các vật chứng nêu trên hiện nay đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Đà Nẵng theo các Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 10 tháng 02 năm 2026 và ngày 29 tháng 4 năm 2026).

3. Về án phí: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Ngọc Kh phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/5/2026) để Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ