- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng X Tr - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Đặng Xuân T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 116/2026/HS-ST Ngày: 29- 6- 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Sơn
2. Bà Hoàng Cúc Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Vũ Trí Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Xuân T; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; giới tính: N, sinh năm 1993 tại tỉnh Điện Biên; số CCCD: 011093005352; nơi cư trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn T, xã T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông: Đặng Đình P; con bà: Đặng Thị Q; vợ, con (Chưa có): tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/8/2009 bị Công an thành phố Đ (cũ) xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 35/QĐXPVPHC về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền 100.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong đã được xoá tiền sự; ngày 19/10/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ (cũ) xử phạt 42 tháng tù về các tội:“Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 01/2015/HSST, ngày 22/02/2018 bị cáo đã chấp hành xong; ngày 29/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ (cũ) xử phạt 18 tháng tù về tội:“Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 120/2018/HSST, bị cáo chấp hành xong ngày 26/02/2020; ngày 09/7/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ (cũ) xử phạt 36 tháng tù về tội:“Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 118/2021/HSST, ngày 31/8/2023, bị cáo đã chấp hành xong; các bản án đều đã được xoá án tích;
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 24/02/2026 tại Phân trại tạm giam Mường Thanh, Công an tỉnh Đ, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/02/2026, Đặng Xuân T đi bộ một mình từ nhà ở thôn T, xã T đến bản C, phường Đ, cùng thuộc tỉnh Điện Biên tìm mua ma tuý để bản thân sử dụng. Tại đường thuộc bản Che Phai, T đã gặp và hỏi mua của 01 người đàn ông dân tộc T1 không biêt họ, tên, tuổi, địa chỉ được 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu đỏ với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được H, T cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ ra khu vực chợ C thuộc tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Điện Biên để tìm chỗ sử dụng Heroine. Hồi 14 giờ ngày 24/02/2026, khi Đặng Xuân T đang đi tại đường B, phường Đ thì bị tổ công tác Công an phường Đ, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 18 giờ ngày 24/02/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã xác định: Mẫu chất màu trắng dạng cục, bột nghi ma túy đựng trong một gói nilon màu đỏ có khối lượng 0,21 gam, gửi giám định toàn bộ.
Tại Bản kết luận giám định số: 229/KL-KTHS ngày 03/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Đặng Xuân T là chất ma túy, loại Heroine, hoàn lại 0,18 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua Heroine về để sử dụng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.
Tại bản Cáo trạng số: 118/CT-VKSKV1 ngày 04/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Điện Biên đã truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt bị cáo Đặng Xuân T từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,18 gam Heroine; 01 phong bì được niêm phong bên trong có 01 mảnh nilon màu đỏ.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo hoàn toàn nhất trí vớib cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có quan điểm tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 14 giờ ngày 24/02/2026 tại đường đi thuộc bản C, phường Đ, tỉnh Điện Biên, Đặng Xuân T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,21 gam Heroine trong người mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL54); kết luận giám định (BL 59); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, bản tự khai của bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,21 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Đặng Xuân T sinh ra và lớn lên tỉnh Điện Biên, bị cáo học hết lớp 11/12 thì ở nhà tham gia lao động sản xuất cùng gia đình. Về nhân thân: Ngày 24/8/2009 bị Công an thành phố Đ (cũ) xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 35/QĐXPCPHC về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền 100.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong đã được xoá tiền sự; ngày 19/10/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ (cũ) xử phạt 42 tháng tù về các tội: “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 01/2015/HSST, ngày 22/02/2018 bị cáo đã chấp hành xong; ngày 29/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ (cũ) xử phạt 18 tháng tù về tội:“Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 120/2018/HSST, bị cáo chấp hành xong ngày 26/02/2020; ngày 09/7/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ (cũ) xử phạt 36 tháng tù về tội:“Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 118/2021/HSST, ngày 31/8/2023, bị cáo đã chấp hành xong; các bản án trên đều đã được xoá án tích. Bị cáo đã từng một lần bị xử lý vi phạm hành chính, 03 lần bị xét xử đã không tu dưỡng rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội, bị cáo đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật, bị cáo là người có nhân thân xấu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để lần nữa cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ cần được chấp nhận.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại bản Che Phai, xã T vào ngày 24/02/2026, do không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, làm rõ được, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đặng Xuân T: Sau khi bị bắt Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể T cho kết quả dương tính với chất ma túy loại MET và MOP. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định T chưa từng thực hiện các biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện, bắt buộc hay điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nên không đủ căn cứ để khởi tố về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Ngày 21/4/2026 Công an phường Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC bằng hình thức cảnh cáo.
Quá trình điều tra Đặng Xuân T khai nhận trước đó đã sử dụng hết 01 gói Heroine (bên trong có chứa 03 cục Heroine) và 01 viên Methamphetamine vào ngày 21/02/2026. Tại Công văn số 29/CV-KTHS ngày 01/6/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã trả lời: Không đủ cơ sở để xác định khối lượng đối với 03 cục Heroine và 01 viên Methamphetamine có đặc điểm nêu trên nên cơ quan Điều tra đã không có căn cứ xem xét xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ là lao động tự do, là người sử dụng ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, mảnh nilon gói ma túy không có giá trị sử dụng, cần bị tịch thu tiêu hủy.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,18 gam Heroine; 01 phong bì được niêm phong bên trong có 01 mảnh nilon màu đỏ.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. [7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025;
Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Về tội danh: Bị cáo Đặng Xuân T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Xuân T: 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 24/02/2026.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,18 gam Heroine được đựng trong 01 túi nilon màu trắng; 01 phong bì được niêm phong bên trong có 01 mảnh nilon màu đỏ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ bàn giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Điện Biên hồi 16 giờ 10 phút, ngày 05 tháng 6 năm 2026)
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 29/6/2026./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐB; - VKSND tỉnh ĐB; - VKSND KV1 - ĐB; - Cơ quan CS ĐT, CQTHA.HS (NTG), bộ phận HSNV - CA T. ĐB); - Phòng THA DS KV1 - ĐB; - PTTGMT - TTG CA tỉnh ĐB; - Bị cáo; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM HỘI THẨM HỘI THẨM Lò Văn Hải Lò Văn Thương HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà |