- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Xuân Hoàng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2025/HS-ST Ngày 11 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Mỹ
Ông Trần Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2025/TLST-HS ngày 12/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/HSST-QĐ ngày 24/3/2025 đối với bị cáo:
Dƣơng Xuân H (tên gọi khác: T), sinh ngày 01/01/1973, tại R, Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 135/62B đường N, phường R1, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); vợ thứ nhất là Nguyễn Thị Lệ T (đã ly hôn) và con chung sinh năm 1992; vợ thứ hai là Nguyễn Thị Tố T1 (đã ly hôn) và con chung sinh năm 2013.
Tiền sự: Không.
Có 01 tiền án: Bản án số 80/2017/HS-ST ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 07 năm 06 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 16/5/2023 chấp hành xong hình phạt tù; đã nộp án phí (chưa xóa án tích).
Nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dưỡng số 327/QĐ-UBND ngày 13/02/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang với thời gian 12 tháng do có hành vi Trộm cắp tài sản; chấp hành từ ngày 13/02/2008 (đã xóa tiền sự).
Bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2024 đến nay.
(bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)
- Người chứng kiến: Ông Phạm Minh H1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 135/32 đường N, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 20 phút, ngày 25/11/2024 tại nhà số 135/62B, đường N, phường R1, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Công an phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá bắt quả tang đối tượng Dương Xuân H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng ngủ nhà riêng của H. Thu giữ trên nệm trong phòng ngủ cạnh nơi của H đang ngồi 01 (một) bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất; 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất (nghi là chất ma túy) và 01 (một) chai nhựa màu xanh, nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn một ống hút bằng nhựa màu xanh và một ống thủy tinh (thường gọi là nỏ) là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy. Htự khai nhận chất rắn trong 02 bịch nylon là ma túy đá (bút lục số 01- 06).
Quá trình điều tra đã xác định, Dương Xuân H là đối tượng nghiện ma túy nhưng không sử dụng thường xuyên. Nguồn gốc 01 (một) bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất và 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất đều là ma túy đá. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ H khai nhận mua của một người đàn ông tên B (không rõ tên thật và địa chỉ cụ thể) tại khu vực chợ Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/11/2024 với giá 900.000 đồng, sau khi mua được 02 bịch ma túy đá nêu trên thì H đem về cất giấu ở phòng ngủ nhà riêng của mình, đến 16 giờ 20 phút cùng ngày H đem ma túy và dụng cụ ra định sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật (bút lục số 07- 11; 73; 74).
Vật chứng thu giữ được trong vụ án:
- 01 (một) bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất (nghi là chất ma túy).
- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất (nghi là chất ma túy).
- 01 (một) chai nhựa màu xanh có nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa màu xanh và 01 ống thủy tinh (thường gọi là nỏ, là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy) (bút lục số 04).
Tại bản kết luận giám định số: 1330/KL-KTHS, ngày 03/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể dạng rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 2,3425 gam.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định trên.
Ngày 04/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Dương Xuân H để điều tra.
Đối với người đàn ông tên B đã bán ma túy cho Dương Xuân H, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Bản cáo trạng số: 109/CT-VKSRG ngày 11/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Dương Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Xuân H từ 02 năm 06 tháng đên 03 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ký hiệu vụ số: 1356/2024 ngày 03/12/2024, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy và người chứng kiến niêm phong Nguyễn Thị Kim Ngọc; 01 chai nhựa màu xanh có nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa màu xanh và 01 ống thủy tinh.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, mong được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Dương Xuân H khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 25/11/2024 tại nhà số 135/62B đường N, phường R1, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Công an phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá tiến hành kiểm tra và đã bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy; số ma túy thu giữ được trên nệm trong phòng ngủ của bị cáo qua giám định xác định là chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,3425 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận mục đích bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng. Nguồn gốc số ma tuý bị bắt quả tang là do bị cáo mua trực tiếp từ một người đàn ông tên B (không rõ lai lịch) ở khu vực chợ Rạch Sỏi thuộc phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vào khoảng 15 giờ ngày 25/11/2024 với số tiền 900.000 đồng.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: điểm c: … Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Xét thấy, bị cáo nhận tội do thực sự thành khẩn, lời khai nhận của bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kiên Giang cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đối chiếu hành vi của bị cáo với quy định của Bộ luật hình sự đã đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Dương Xuân H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Ma túy gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, an ninh trật tự, đạo đức lối sống, trở thành một hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, đe doạ trực tiếp đến cuộc sống của mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được tác hại của việc sử dụng ma túy sẽ gây tổn hại lâu dài đến thể chất, tinh thần của con người và trái quy định của pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, bản thân bị cáo đã có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn không hối cải mà tiếp tục phạm tội, qua đó cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật, nên cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm theo khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo thuộc trường hợp có nhân thân xấu.
Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định, cải tạo bị cáo thành công dân biết tôn trọng pháp luật; qua đó đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác đấu tranh với tội phạm ma tuý.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ký hiệu vụ số: 1356/2024 ngày 03/12/2024, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy và người chứng kiến niêm phong Nguyễn Thị Kim Ngọc; 01 chai nhựa màu xanh có nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa màu xanh và 01 ống thủy tinh.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Dương Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Dương Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Dương Xuân H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 25/11/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ký hiệu vụ số: 1356/2024 ngày 03/12/2024, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy và người chứng kiến niêm phong Nguyễn Thị Kim Ngọc; 01 chai nhựa màu xanh có nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa màu xanh và 01 ống thủy tinh.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 80/QĐ-VKS ngày 11/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Dương Xuân H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND TP. Rạch Giá; - Chi cục THA dân sự TP. Rạch Giá; - Công an tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Bị cáo; - Lưu . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Hồng Thắm |