vanban.org

Bản án 116/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lưu Bích T. Bà Lưu Bích T được ly hôn với ông Võ Văn K.

Về nuôi con chung: Giao cho bà Lưu Bích T chịu trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Võ Gia H, sinh ngày 12/8/2013 (nam). Ông Võ Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thuỷ - Kỷ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lưu Bích T. Bà Lưu Bích T được ly hôn với ông Võ Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST
Ngày 09-9-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tạo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Liêm

Ông Nguyễn Đông Hồ

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 311/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lưu Bích T, sinh năm 1989 (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Võ Văn K, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Cùng cư trú tại: Ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 6 năm 2025 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, nguyên đơn bà Lưu Bích T trình bày yêu cầu:

- Về hôn nhân: Qua thời gian quen biết và tìm hiểu nhau nên bà Lưu Bích T và ông Võ Văn K kết hôn với nhau vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lợi An (nay là xã Trần Văn Thời), tỉnh Cà Mau vào năm 2013. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2025 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do ông K hay ghen tuông vô cớ, thường hay đi nhậu với bạn bè rồi về kiếm chuyện chưởi vợ, xúc phạm vợ rồi có khi đánh vợ, gia đình hai bên có hoà giải, động viên, hàn gắn nhưng ông K vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã không sống chung từ đầu năm 2025 cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc và không thể tiếp tục duy trì nên bà Lưu Bích T yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn K.

- Về con chung: Có 01 người con tên Võ Gia H, sinh ngày 12/8/2013 (nam), hiện sống chung với bà T. Khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con và cũng theo nguyện vọng của con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lưu Bích T không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Võ Văn K: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà ông K không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu xin ly hôn của bà T. Đồng thời, Tòa án tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần nhưng ông K vẫn không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Lưu Bích T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu của đương sự phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Bị đơn ông Võ Văn K Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập xét xử hợp lệ lần 2 đối với ông K, nhưng ông K vẫn vắng mặt không lý do; Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Võ Văn K.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Lưu Bích T và ông Võ Văn K kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lợi An (nay là xã Trần Văn Thời), tỉnh Cà Mau vào năm 2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 106 ngày 17 tháng 9 năm 2013. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà Lưu Bích T và ông Võ Văn K được pháp luật công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Xét thấy, bà Lưu Bích T xin ly hôn với ông Võ Văn K là vì trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông K hay ghen tuông vô cớ, thường hay đi nhậu với bạn bè rồi về kiếm chuyện chưởi vợ, xúc phạm vợ rồi có khi đánh vợ, gia đình hai bên có hoà giải, động viên, hàn gắn nhưng ông K vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã không sống chung từ đầu năm 2025 cho đến nay. Về phía ông K đã được Tòa án thông báo hòa giải hợp lệ, nhưng ông K vẫn vắng mặt và cũng không có trình bày ý kiến gì của mình về yêu cầu xin ly hôn của bà Thủy, từ đó cho thấy ông K cũng không có thiện chí mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa bà Thủy với ông K. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Thủy với ông K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lưu Bích T. Bà Lưu Bích T được ly hôn với ông Võ Văn K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về nuôi con chung: Bà Lưu Bích T xác định có 01 người con là Võ Gia H, sinh ngày 12/8/2013 (nam), hiện sống chung với bà T. Khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con. Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình thì con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con, Tòa án đã làm việc trực tiếp với cháu Võ Gia H thì cháu H có nguyện vọng sống chung với mẹ Thủy nên Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của cháu H. Do đó, giao con tên Võ Gia H, sinh ngày 12/8/2013 (nam) cho bà Lưu Bích T được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Ông Võ Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), người khởi kiện yêu cầu ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án có chấp nhận hay không chấp chận cho ly hôn đều phải chịu án phí nên bà Lưu Bích T phải chịu nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lưu Bích T. Bà Lưu Bích T được ly hôn với ông Võ Văn K.

2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Lưu Bích T chịu trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Võ Gia H, sinh ngày 12/8/2013 (nam).

Ông Võ Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Lưu Bích T phải chịu nộp án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Lưu Bích T có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019606 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau) được chuyển thu, không phải nộp tiếp.

“Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ