vanban.org

Bản án 116/2024/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 30/10/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,381 gam ma túy loại Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,288 gam ma túy loại Heroine. Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143065353450, số IMEI 2: 867143065353443, bên trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán TPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MÊ LINH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------------------
Bản án số: 116/2024/HSST
Ngày 30/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Duệ. Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Kiều Xuân Mai.

2/ Bà Dương Thị Kim Lan.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quang Đạo – Thư ký Toà án ND huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà:

Ông Phạm Ngọc Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: B, sinh năm 1964; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: , huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông H (Chết); Con bà G (Chết); gia đình có 06 chị em, bị cáo là thứ sáu; Vợ, con: Chưa có. Theo danh chỉ bản số 213 ngày 11/5/2024 của Công an huyện Mê Linh và trích lục tiền án, tiền sự số 64881xxx/2024/PV06 ngày 19/6/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Hà Nội thì: Bị cáo không có tiền án; không có tiền sự. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 317/HSST ngày 13/3/2000, Tòa án nhân thành phố Hà Nội; xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 năm tù về tội “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cao phải chấp hành chung cho 2 tội là 5 (Năm) năm tù. Tạm giữ: từ ngày 03/5/2024 đến ngày ngày 12/5/2024; Tạm giam: từ ngày 12/5/2024 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

2/ Họ và tên: T, sinh năm 1970; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: , huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông X (Chết); Con bà C (Chết); gia đình có 05 chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ là D; Có 03 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 2000. Theo danh chỉ bản số 212 ngày 11/5/2024 của Công an huyện Mê Linh và trích lục tiền án, tiền sự số 64882xx/2024/PV06 ngày 19/6/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Hà Nội thì: Bị cáo không có tiền án; không có tiền sự. Về nhân thân: Bị cáo có 04 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 68/HS-PT ngày 30/7/1992, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân; Bản án số 52/HSST ngày 21/5/2003, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử 14 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Bản án số 107/2014/HSST ngày 11/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội xử 40 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bản án số 15/HSST ngày 09/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội xử 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tạm giữ: từ ngày 03/5/2024 đến ngày ngày 12/5/2024; Tạm giam: từ ngày 12/5/2024 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ 10 phút ngày 03/5/2024, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Mê Linh phát hiện bắt quả tang B đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho T tại khu vực cánh đồng thôn Đại Bái, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan điều tra B và T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 03/5/2024, B đi đến khu vực chợ Long Biên gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua được 01 gói ma tuý Heroine với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, B đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 27 phút cùng ngày, khi B đang ở nhà thì T sử dụng số điện thoại xx gọi vào số điện thoại xx của B hỏi mua 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) ma tuý Heroine. Hai bên thỏa thuận và hẹn giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý ở khu vực cánh đồng thôn Đại Bái, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 17 giờ 43 phút cùng ngày, B đến khu vực cánh đồng thôn Đại Bái, xã Đại Thịnh. Tại đây, B mở gói ma tuý mua lúc sáng lấy một ít ra sử dụng, số ma tuý còn lại B chia làm hai (gồm 01 túi ni lông và 01 gói giấy) với mục đích túi ni lông dùng để bán cho T gói giấy còn lại B dùng để bán kiếm lời khi có người hỏi mua. Một lúc sau, T đến gặp và đưa cho B 1.000.000 đồng, B nhận tiền đút vào túi áo khoác bên trái rồi đưa lại cho T 01 túi ma tuý Heroine. Đúng lúc này, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang B và T về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý; Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

* Vật chứng thu giữ gồm: Quá trình bắt giữ các đối tượng và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan, gồm:

- Thu của Nguyễn Văn T: 01 (Một) túi ni lông chứa chất bột màu trắng nghi vấn là ma tuý; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143065353450, số IMEI 2: 867143065353443, bên trong máy lắp th sim số: xx.

- Thu giữ của B: 01 (Một) gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi vấn là ma tuý; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy 7 Prime màu trắng, số IMEI 1: 357625080517512, số IMEI 2: 357651080517518, bên trong máy lắp th sim số xx; Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Cùng ngày Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của B và T, kết quả: Không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại kết luận giám định số 3288/KL-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông (thu giữ của T, ký hiệu là A1) là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,414 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng (thu giữ của B, ký hiệu là A2) là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,301 gam.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho B tại khu vực chợ Long Biên: Quá trình điều tra, không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số 117/CT.VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố: B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát huyện Mê Linh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng số 117/CT.VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: B từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: T từ 15 tháng đến 21 tháng tù.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,381 gam ma túy loại Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,288 gam ma túy loại Heroine.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143065353450, số IMEI 2: 867143065353443, bên trong máy lắp th sim số: xx; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy 7 Prime màu trắng, số IMEI 1: 357625080517512, số IMEI 2: 357651080517518, bên trong máy lắp th sim số xx và số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).

- Các bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mê Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo B khai nhận có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”; T khai nhận có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án; phù hợp với ý kiến phát biểu, lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa và phù hợp với nội dung vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 03/5/2024, B đi đến khu vực chợ Long Biên gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua được 01 gói ma tuý Heroine với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, B đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 27 phút cùng ngày, khi B đang ở nhà thì T sử dụng số điện thoại xx gọi vào số điện thoại xx của B hỏi mua 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) ma tuý Heroine. Hai bên thỏa thuận và hẹn giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý ở khu vực cánh đồng thôn Đại Bái, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, Hà Nội. Đến khoảng 17 giờ 43 phút cùng ngày, B đến khu vực cánh đồng thôn Đại Bái, xã Đại Thịnh. Tại đây, B mở gói ma túy mua lúc sáng lấy một ít ra sử dụng, số ma tuý còn lại B chia làm hai (gồm 01 túi ni lông và 01 gói giấy) với mục đích túi ni lông dùng để bán cho T gói giấy còn lại B dùng để bán kiếm lời khi có người hỏi mua. Một lúc sau, T đến gặp và đưa cho B 1.000.000 đồng, B nhận tiền đút vào túi áo khoác bên trái rồi đưa lại cho T 01 túi ma tuý Heroine. Đúng lúc này, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện Mê Linh, Hà Nội phát hiện, bắt quả tang B và T về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tại kết luận giám định số 3288/KL-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông (thu giữ của T, ký hiệu là A1) là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,414 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng (thu giữ của B, ký hiệu là A2) là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,301 gam.

Hành vi của bị cáo B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò là người mua ma túy loại Heroine để sử dụng và bán ma túy loại Heroine cho T. Tội danh và hình phạt theo qui định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều khoản này quy định “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hành vi của bị cáo T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với vai trò là người mua ma túy loại Heroine tàng trữ để sử dụng. Tội danh và hình phạt theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều khoản này quy định 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…g) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo B và hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và còn là mầm mống gây nên căn bệnh thế kỷ HIV và các loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; do các bị cáo nghiện ma túy; ăn chơi đua đòi; không chịu làm ăn lại muốn có tiền thu lời từ việc bán ma túy; ý thức của các bị cáo là coi thường pháp luật nên cố tình phạm tội. Vì vậy, phải xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc.

Về nhân thân và tiền án, tiền sự:

- Bị cáo B: Không có tiền án, không có tiền sự: Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích.

- Bị cáo T: Không có tiền án, không có tiền sự. Về nhân thân: Bị cáo có 04 tiền án đã được xóa án tích.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, nhưng vẫn phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo nói riêng và góp phần vào đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Xét thấy: Các bị cáo nghiện ma túy, không có việc làm và không có thu nhập ổn định; vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,381 gam ma túy loại Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,288 gam ma túy loại Heroine là vật chứng vụ án; nhà nước cấm tàng trữ, cấm mua bán nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143065353450, số IMEI 2: 867143065353443, bên trong máy lắp th sim số: xx; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy 7 Prime màu trắng, số IMEI 1: 357625080517512, số IMEI 2: 357651080517518, bên trong máy lắp th sim số xx đã qua sử dụng, dùng để gọi, nghe mua bán ma túy; được xác định là phương tiện phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) là tiền mua bán ma túy được xác định là tiền do phạm tội mà có, nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố các bị cáo B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: B 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 03/5/2024.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 03/5/2024.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,381 gam ma túy loại Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,288 gam ma túy loại Heroine.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143065353450, số IMEI 2: 867143065353443, bên trong máy lắp th sim số: xx; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy 7 Prime màu trắng, số IMEI 1: 357625080517512, số IMEI 2: 357651080517518, bên trong máy lắp th sim số xx và số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Công an huyện Mê Linh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh).

- Áp dụng: Khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mục 1 phần I; Tiểu mục 1.1 mục 1 phần II của danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

- Áp dụng: Điều 331, 334 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Án xử công khai, sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ