vanban.org

Bản án 116/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuấn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2023/HS-ST
Ngày: 10-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường

Ông Hồ Sĩ Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2023/HSST ngày 06 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Tuấn A, sinh năm 1989 tại tỉnh Sơn La; HKTT: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Chỗ ở: 124/32 đường A, phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Lê Văn L (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 24/4/2020 bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng tù, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo (QĐ số 23/2020/QĐ-TA ngày 24/4/2020), chấp hành xong ngày 01/02/2021.

Bị cáo bị bắt ngày 30/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 11/12/2022, tại trước nhà số 92 đường A, Phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường A, TP Vũng Tàu phát hiện bắt quả tang Lê Tuấn A đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Do chưa có kết quả giám định vật chứng thu giữ của Tuấn A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu đã Quyết định trả tự do Tuấn A.

Sau khi có kết quả giám định, xác định vật chứng thu giữ của Tuấn A là ma túy, loại Methamphetamine, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu tiến hành bắt, tạm giam Lê Tuấn A để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra, Lê Tuấn A khai nhận: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 11/12/2022, Tuấn A đến khu vực cảng A thuộc hẻm 1007 đường B, Phường C, TP Vũng Tàu mua 01 gói ma túy đá (Methamphetamine) với số tiền 200.000 đồng của một người nam thanh niên tên V (không rõ nhân thân, lai lịch), với mục đích để Tuấn A sử dụng. Sau khi mua ma túy, Tuấn A đi đến trước nhà số 92 đường A, Phường B, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị Công an Phường B, TP Vũng Tàu bắt quả tang, thu giữ gói ma túy đá trên tay trái của Tuấn A.

Lời khai của Lê Tuấn A phù hợp với Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được và phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Phan Mạnh Cường.

Tại Kết luận giám định số 530/KLGĐ-KTHS-MT ngày 16/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Gói ma túy thu giữ của Lê Tuấn A gửi đến giám định có khối lượng 0,1491 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ vật chứng là 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu - trong suốt, qua giám định có khối lượng 0,1491 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 06/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 11/12/2022, tại trước nhà số 92 đường A, Phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an Phường B, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện bắt quả tang Lê Tuấn A đang tàng trữ trái phép 0,1491 gam ma túy, loại Methamphetamine. Tuấn A tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có nhận thức đầy đủ, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có 01 tiền sự. Ngày 24/4/2020 bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng tù, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo (QĐ số 23/2020/QĐ-TA ngày 24/4/2020), chấp hành xong ngày 01/02/2021, nhưng không lấy đó làm bài học tu sửa bản thân mà nay lại phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong phong bì niêm phong số 530 ngày 16/122022) là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông V (không rõ nhân thân lai lịch) là người bán ma túy cho Tuấn A, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

U T ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn A, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c, Khoản 1, Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Tuấn A: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 12 năm 2022.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong phong bì niêm phong số 530 ngày 16/122022) của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 191/BB.THA ngày 10/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Tuấn A phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ