- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Đại D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Đại D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2023/HS-ST Ngày 25 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Anh;
2. Ông Phạm Thế Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hương, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Dƣơng Đại D, sinh ngày 19/4/1993 tại Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã H, thành phố B, tỉnh Thái Bình; nghề nghiê ̣p: Lao đô ̣ng tự do ; trình độ học vấn: 12/12; dân tô ̣c : Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông Dương Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 108/2010/HS-ST ngày 06/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, Bản án số 52/2010/HS-PT ngày 07/12/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình tuyên y án sơ thẩm (đã chấp hành xong); bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/4/2023 đến ngày 14/4/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; (có mặt).
- Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, thành phố B, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
2. Anh Trần Đức T, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Thôn L, xã X, thành phố B, tỉnh Thái Bình; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 11/4/2023, bị cáo Dương Đại D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng không đeo biển kiểm soát đi ra khu vực C, phường Q, thành phố B, tỉnh Thái Bình với mục đích mua ma túy về để bán kiếm lời. Tại đây, bị cáo đã gặp và mua của 01 người phụ nữ khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 túi ma tuý, loại Ketamine, (ma tuý được đựng trong túi nilon trong suốt có mép cài viền, mở ra bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng) với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo điều khiển xe mô tô ra khu vực cổng Công viên nước, đường C thuộc tổ 02, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình để bán. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo chưa kịp bán ma túy thì bị tổ công tác công an tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn H và anh Trần Đức T, bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma tuý đang cất giấu tại túi áo khoác ngoài bên phải đang mặc cho cơ quan công an và khai đó là ma tuý, loại Ketamine. Cơ quan Công an đã niêm phong gói ma tuý quản lý của bị cáo để trưng cầu giám định. Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ và quản lý của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel vỏ màu xanh đen đã cũ và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng không đeo biển kiểm soát. Cùng ngày, cơ quan công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo.
Tại Bản Kết luận giám định số 522/KL-KTHS(MT) ngày 13/4/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định quản lý của Dương Đại D là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 1,5704 gam.
Cáo trạng số 125/CT-VKSTPTB ngày 27/6/2023, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tốbị cáo Dương Đại D về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự.
̀
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình , tỉnh Thái Bình luận tội, giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Đại D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Đại D mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 522/KL-KTHS(MT); chấp nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng không đeo biển kiểm soát cho anh D Ngọc Hùng (anh trai của bị cáo); Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel vỏ màu xanh đen đã cũ.
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đa truy tỗ
́ và không có ý ki ến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hô ̣i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐI ̣NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong q uá trình điều tra , truy tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó , các hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃
c hiê ̣n đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Dương Đại D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/4/2023, tại khu vực cổng Công viên nước, đường C thuộc tổ 02, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình, bị cáo Dương Đại D có hành vi cất giấu tại túi áo khoác ngoài bên phải đang mặc của bị cáo 01 gói ma tuý, loại Ketamine có khối lượng 1,5704 gam, mục đích để bán kiếm lời. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định: “:“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm…”. Cáo trạng số 125/CT-VKSTPTB ngày 27/6/2023 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Th ái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố đối với bị cáo Dương Đại D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quy định quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ pháp luật nói chung và Hình sự nói riêng nghiêm cấm việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma tuý để kiếm lời, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2010 đã bị xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Xét thấy bị cáo bán ma túy với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý tài sản, vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần ti ̣ch thu tiêu h ủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng không đeo biển kiểm soát mà cơ quan công an thu giữ của bị cáo, tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Chiếc xe này có số khung: RLHJA3927NY279611; số máy JA39E-2776582 không biển số, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của anh trai bị cáo là anh Dương Ngọc H, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, thành phố B, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện nay: Xã P, huyện H, thành phố Hải Phòng. Anh H để ở xe ở nhà cho bị cáo mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 11/4/2023 anh H không biết việc bị cáo lấy xe để đi mua bán ma túy nên cơ quan công an đã trả lại tài sản cho anh H. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel vỏ màu xanh đen đã cũ là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo.
[8] Về nguồn gốc số ma túy , bị cáo khai mua của mô ̣t ngườ i phụ nữ khoảng 30 tuổi tại khu vực C, phường Q, thành phố B, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải n ộp án phi hinh sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh c ủa
́ ̀
pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Đại D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Đại D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11/4/2023.
2.2. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Dương Đại D 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo Dương Đại D còn lại sau giám đi ̣nh được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 522/KL-KTHS(MT);
3.2. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel vỏ màu xanh đen đã cũ.
(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân s ự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/6/2023).
4. Về án phí: Bị cáo Dương Đại D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Đại D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/7/2023.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
̀
̉ SƠ THẨ
| - Bị cáo; - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra và Cơ quan THA hình sự Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vu ̣ án. | TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ M THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thi ̣ Linh Nga |