vanban.org

Bản án 116/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn N mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 13/02/2023. Về xử lý vật chứng. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm 01 (một) phong bì niêm phong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng Trữ Trái Phép Chất Ma Túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2023/HS-ST
Ngày: 12-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thậm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Dũng và bà Trần Thị Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Trần Trí Thức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án hình sự sơ thẩm số 137/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn N, sinh ngày 24/4/1988. Nơi sinh: huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Nơi ĐKTT: Ấp Mương Đào C, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Nhà trọ không số, hẽm 1028 đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1960; chị, em ruột: 02 người, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1990; Vợ: Trần Thị X, sinh năm 1981 (chưa đăng ký kết hôn); Tiền án, tiền sự: Chưa.

* Nhân thân:

- Ngày 13/12/2005 bị Ủy ban nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng theo Quyết định số 1677/QĐ-UBND ngày 13/12/2005, đi chấp hành từ ngày 15/12/2005, đã được xóa tiền sự.

- Ngày 30/12/2008 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng theo Quyết định số 3051/QĐ-UBND ngày 20/12/2008, đi chấp hành từ ngày 13/01/2009, đã được xóa tiền sự.

Ngày 13/02/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy, tạm giữ từ ngày 13/02/2023 đến ngày 21/02/2023 bị khởi tố, tạm giam theo Lệnh tạm giam số 23 ngày 21/02/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo có mặt tại tòa.

* Người chứng kiến:

1. Trần Văn T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số 1067C đường L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

2. Khuôn Văn D, sinh năm 2002. Địa chỉ: Số 434/3 đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 00 phút, ngày 13/02/2023 tại khu vực đầu hẽm 1028 đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R phối hợp cùng Công an phường A bắt quả tang Lê Văn N đang tàng trữ trái phép chất ma túy, kiểm tra thu giữ trong lưng quần phía trước của N đang mặc 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín bên trong có các hạt chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất.

Qua điều tra xác định Lê Văn N là người bị nghiện ma túy đá, qua mối quan hệ xã hội thì N có quen biết một người tên Ly (không rõ tên thật, địa chỉ) vào sáng ngày 13/02/2023 thì Ly có ghé nhà của N chơi, tại đây Ly hỏi N có sử dụng ma túy đá hay không thì N thừa nhận có sử dụng ma túy đá, đến trưa cùng ngày trước khi ra về thì Ly lấy cho N 01 (một) bịch ma túy đá. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/02/2023 N đi bộ ra khu vực đầu hẻm 1028 đường N, phường A, thành phố R để ăn tối và mua đồ. Khi đi N lấy bịch ma túy Ly cho cất giấu vào lưng quần phía trước đang mặc, đến 22 giờ 00 phút cùng ngày thì N bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R phối hợp cùng Công an phường A bắt quả tang cùng tang vật.

Ngày 21/02/2023, Lê Văn N bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, tạm giam để điều tra.Trong quá trình điều tra, truy tố Lê Văn N có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo.

* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật: 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất.

* Kết luận giám định số 147/KT-KTHS, ngày 20/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Các hạt chất rắn, dạng tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1912 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Bản Cáo trạng số 124/CT-VKSRG ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn N mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu, tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 147/2023, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 36 ngày 09/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào lúc 22 giờ 00 phút, ngày 13/02/2023 tại khu vực đầu hẻm 1028 đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R phối hợp cùng Công an phường An Hòa bắt quả tang Lê Văn N đang tàng trữ trái phép chất ma túy, kiểm tra thu giữ trong lưng quần phía trước N đang mặc 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,1912 gam.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn nêu trên.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được việc sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý nghiêm. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn N là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Bản thân bị cáo có đủ năng lực biết rất rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng như thế nào đối với sức khỏe, tinh thần của con người và cũng là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân bị cáo nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Vì vậy Nhà nước luôn chú trọng việc đấu tranh phòng ngừa và xử lý nghiêm đối với loại tội phạm này. Nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật cố ý lao vào con đường phạm tội. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng đối với tội trạng của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, cũng đồng thời ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn; đồng thời bị cáo cũng không đảm nhiệm chức vụ, không hành nghề cũng như không làm công việc gì nhất định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về Xử lý vật chứng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 147/2023, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 88/QĐ-VKSRG ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với người tên Ly đã đưa ma túy cho Lê Văn N hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn N mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 13/02/2023.

2. Về xử lý vật chứng. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 147/2023, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 88/QĐ-VKSRG ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 12/7/2023).

Cỡ chữ