- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Du cùng đồng phạm- Tàng trữ, mua bán TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Chu D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2023/HS-ST Ngày: 16-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HL, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bạch Bích.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đức Nhân
Bà Hồ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Ngọc Mai- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Lê Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Chu D, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1974 tại HL, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ 5, khu 4, phường H, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Đức L, sinh năm 1941 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1948; vợ là chị Trần Thị X (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2016; tiền án: ngày 29/01/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 22/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; tiền sự: ngày 28/11/2019, bị Công an phường BĐ xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hiện chưa chấp hành xong; bị bắt ngày 21/12/2022, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh- có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Đức Th, sinh ngày 16 tháng 01 năm 1980 tại HL, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ 7, khu 5, phường H, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1940 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1946; vợ là chị Trần Thị Th3, sinh năm 1983, có 01 con, sinh năm 2011; tiền án: không có; tiền sự: ngày 11/7/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố HL áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn chấp hành 18 tháng. Ngày 09/02/2021 chấp hành xong; bị bắt ngày 21/12/2022, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh- có mặt.
3. Họ và tên: Trần Mạnh H, sinh ngày 20 tháng 05 năm 1976 tại HL, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ 3, khu 4, phường H, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị Th4, sinh năm 1949; vợ là chị Nguyễn Thị Ng (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 27/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 29/4/2020 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Ngày 20/7/2018 chấp hành xong phần thi hành án dân sự; ngày 17/3/2016, bị Công an phường HG, thành phố HL xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt: 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 25/3/2016 chấp hành xong; ngày 02/11/2017, bị Công an thành phố U xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt: 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, cùng ngày chấp hành xong; bị bắt ngày 21/12/2022, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh- có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Đức Th1, sinh năm 1976, nơi cư trú: tổ 7, khu 5, phường H, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh- có đơn xin xử vắng mặt.
* Người làm chứng,:
+ Anh Trịnh Xuân Kh, sinh năm 1975, nơi cư trú: tổ 3, khu 6, phường H, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh;
+ Anh Đỗ Viết Th2, sinh 1989; nơi cư trú: tổ 12 C, khu 2, phường HK, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh;
+ Chị Vũ Hòa L, sinh năm 1991; nơi cư trú: tổ 34, khu 4, phường HG, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh.
(Người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội Dng vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 50 phút ngày 21/12/2022, tại tổ 10, khu 5, phường HT, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an thành phố HL bắt quả tang Chu D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong tay trái của D 01 gói giấy, bên trong có 03 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3); thu tại túi quần nhỏ phía trước bên phải của D có 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M4); thu tại túi quần to phía trước bên phải của D có 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M5); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát (BKS) 14B1-341.97.
Tại Bản kết luận giám định số 2086/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M5 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; tổng khối lượng M1, M2, M3 thu giữ trong bàn tay trái của D là 0,514 gam; khối lượng M4 thu giữ trong túi quần nhỏ phía trước bên phải của D là 0,22 gam; khối lượng M5 thu giữ trong túi quần to phía trước bên phải của D là 0,157 gam;
Tại cơ quan điều tra, D khai: D và Nguyễn Đức Th, Trần Mạnh H là bạn bè quen biết và đều là đối tượng nghiện ma túy. Sáng ngày 21/12/2022, Th gọi điện thoại cho D hỏi đang ở đâu, D trả lời đang ở sân vận động H. Một lúc sau, khi D đang ngồi uống nước nói chuyện với H thì thấy Th điều khiển xe máy tô BKS 14B1-341.97 đi đến và cùng tham gia. Trong lúc trò chuyện, D bảo Th và H là mình biết chỗ bán ma túy và rủ Th, H góp tiền để D mua ma túy về sử dụng chung. Nghe vậy, H đưa cho D 200.000 đồng rồi nói “em góp 200.000 đồng”, Th đưa cho D 190.000 đồng và nói “em góp 190.000 đồng, còn lại 10.000 đồng để em mua kim tiêm”. Góp tiền xong, cả ba hẹn gặp nhau ở khu vực nghĩa trang HT để cùng nhau sử dụng ma túy, và lượng ma túy D mua về sẽ được gộp vào để cả ba sử dụng chung chứ không chia lượng ma túy cho từng người. Sau khi thống nhất, Th dùng xe chở D, H đi đến khu vực dốc giao thông, phường HT1, thành phố HL. Tại đây, Th giao xe máy cho D đi mua ma túy. Trên đường đi, D nhận được điện thoại của Trịnh Xuân Kh hỏi D có ma túy bán không thì bán cho Kh 200.000 đồng, D nghe vậy đã nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời nên đồng ý rồi bảo Kh đi theo hướng Trung tâm cấp cứu mỏ lên nghĩa trang HT để đợi D đến giao dịch. Khi D đi đến khu vực cây xăng km8, phường Qu, thành phố CP, gặp và mua của một người thanh niên tên Q (không rõ lai lịch, địa chỉ) 04 gói ma túy với giá 200.000 đồng/gói và 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Do chỉ có 890.000 đồng nên D trả cho Q và xin 10.000 đồng, Q đồng ý. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu 01 gói ma túy mua với giá 100.000 trong túi quần nhỏ phía trước bên phải, dự định mang về sẽ bán cho Kh với giá 200.000 đồng; cất giấu 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng trong túi quần to phía trước bên phải để tự sử dụng khi có nhu cầu; 03 gói ma túy giá 200.000 đồng/gói còn lại D cầm trên tay đi về nơi hẹn để cùng sử dụng với Th và H. Khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, khi D đi về khu vực nghĩa trang HT thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Căn cứ lời khai của D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố HL đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đức Th và Trần Mạnh H khi Th và H đang đứng tại khu vực nghĩa trang HT để chờ Chu D mang ma túy về cùng sử dụng. Quá trình thi hành Lệnh, cơ quan Công an đã thu giữ của Th 02 ống kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 điện thoại Iphone; thu giữ của H 01 điện thoại Masstel. Đồng thời, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố HL thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Chu D nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức Th và Trần Mạnh H có lời khai phù hợp với lời khai của D về việc thỏa thuận thống nhất góp tiền mua ma túy sử dụng chung như đã nêu trên. Th và H còn khai: Sau khi xuống xe ở khu vực dốc giao thông, cả hai đi bộ lên nghĩa trang HT. Trên đường đi, Th ghé vào một hiệu thuốc để mua 2 ống bơm kim tiêm, mục đích để Th và D sử dụng, còn H sử dụng ma túy bằng hình thức hít qua đường mũi. Cả hai đi lên nghĩa trang HT để đợi D mua ma túy về sử dụng chung. Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt giữ.
Chiều ngày 21/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố HL tiến hành xác minh, triệu tập làm việc đối với Trịnh Xuân Kh do có hành vi hỏi mua ma túy của Chu D, đồng thời tiến hành xét nghiệm mẫu nước tiểu thu giữ của Trịnh Xuân Kh, kết quả dương tính với ma túy Heroine.
Quá trình điều tra Kh khai nhận: sáng ngày 21/12/2022, Kh gọi điện cho D hỏi mua 01 gói ma túy, loại Heroine. D đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực nghĩa trang HT. Khi đi đến địa điểm đã hẹn với D, thì Kh thấy khu vực nghĩa trang đang có đông người, lại không có đủ tiền mua ma túy như đã thỏa thuận nên Kh quay về nhà và cũng không gọi lại thông báo cho D về việc không mua ma túy nữa. Ngoài ra Kh còn khai mẫu nước tiểu của Kh dương tính với ma túy là do Kh tự sử dụng trước đó vào sáng ngày 20/12/2022.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSHL ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL truy tố Chu D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Đức Th và Trần Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL giữ nguyên quan điểm truy các bị cáo và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt Chu D 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 18 tháng đến 24 tháng tù về tội tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc Chu D phải chấp hành từ 54 tháng đến 66 tháng tù;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Đức Th từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt; xử phạt Trần Mạnh H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, 02 bơm kim tiêm;
- Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel của bị cáo Chu D;
- Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone cho bị cáo Nguyễn Đức Th; trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel cho bị cáo Trần Mạnh H.
Tại phiên tòa, các bị cáo D, Thủy, Hùng khai nhận về hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL truy tố. Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội Dng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố HL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo D, Th, H không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo Chu D về việc ngày 21/12/2022 bị công an bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 05 gói ma túy heroine có tổng trọng lượng 0,891 gam, (trong số đó có 03 gói ma túy tổng trọng lượng 0,514 gam nhằm mục đích để sử dụng cùng với Th, H; 01 gói ma túy trọng lượng 0,157 gam do D để sử dụng riêng cho bản thân; và 01 gói ma túy trọng lượng 0,22 gam do D định bán cho Kh) là phù hợp với lời khai của anh Đỗ Viết Th2, chị Vũ Hòa L là những người chứng kiến việc Công an phát hiện bắt quả tang và thu hồi vật chứng của Chu D; phù hợp với kết luận giám định số 2086/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh.
Lời khai của D còn phù hợp với lời khai của Th, H là những người góp tiền để D đi mua ma túy về sử dụng chung; phù hợp với lời khai của Kh là người gọi điện hỏi mua ma túy của D.
Đánh giá các chứng cứ nêu trên, kết hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được cơ quan điều tra xác minh, thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ…, thấy có đủ căn cứ kết luận: Hồi 10 giờ 50 phút ngày 21/12/2022, tại khu vực tổ 10, khu 5, phường HT, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh, Chu D có hành vi cùng với Nguyễn Đức Th, Trần Mạnh H tàng trữ trái phép 0,514 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng. Ngoài ra Chu D còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,157 gam ma túy, loại Heroine để tự sử dụng và tàng trữ trái phép 0,22 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để bán cho Trịnh Xuân Kh, nhưng chưa kịp bán thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố HL phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Chu D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Đức Th và Trần Mạnh H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự. Hành vi đó đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo không những gây mất an ninh trật tự tại địa phương mà còn tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma túy khác. Vì vậy cần xử phạt nghiêm minh.
Xét vai trò: trong vụ án này, đối với tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” thì Chu D phạm tội độc lập; đối với tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thì các bị cáo Chu D, Nguyễn Đức Th, Trần Mạnh H phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, trong đó Chu D là người khởi xướng việc góp tiền đi mua ma túy sử dụng chung, là người trực tiếp đi mua ma túy nên có vai trò cao hơn Th và H. Th và H đều góp tiền để D đi mua ma túy về sử dụng chung nên có vai trò ngang nhau.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đều đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc bị xét xử. Riêng bị cáo D phạm tội lần này khi chưa được xóa án tích đối với bản án số 26/2021/HSST ngày 29/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo D, Thủy, Hùng đều có thái độ khai báo thành khẩn. Vì vậy áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Chu D có bố là ông Chu Đức L, mẹ là bà Đinh Thị T là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến; Trần Mạnh H có bố là ông Trần Văn Đ, mẹ là bà Lê Thị Th4 là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến; Nguyễn Đức Th có bố là ông Nguyễn Đức T là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên D, Th và H còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL về việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: đối với số ma túy hoàn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 02 bơm kim tiêm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen kèm 01 sim thu giữ của Chu D, bị cáo dùng để liên lạc việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen kèm 01 sim thu giữ của Trần Mạnh H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng kèm 01 sim thu giữ của Nguyễn Đức Th không chứng minh được có liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 14B1-341.97 thu giữ của D. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe này tài sản hợp pháp của anh trai của bị cáo Th là anh Nguyễn Đức Th1. Sáng ngày 21/12/2022, Th mượn xe của anh Th1 đi uống nước. Anh Th1 không biết việc Th đưa xe cho D mượn để sử dụng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả chiếc xe này cho anh Nguyễn Đức Th1. Nay anh Th1 không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Các vấn đề khác: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông tên Q, theo D khai là người đã bán ma túy cho Chu D. Quá trình điều tra không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Trịnh Xuân Kh có hành vi gọi điện hỏi mua ma túy loại Heroine của Chu D. Nhưng khi đi đến địa điểm giao dịch mua bán ma túy như đã hẹn với D thì Kh đã quyết định không mua ma túy của D nữa và bỏ về, vì vậy không có căn cứ để xử lý. Tuy nhiên, Kh có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã bị Công an thành phố HL ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Chu D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: bị cáo Chu D 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc Chu D phải chấp hành là 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/12/2022.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Th 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/12/2022.
3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/12/2022.
4. Căn cứ: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định có trong phong bì còn nguyên niêm phong số 2086/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 02 (hai) bơm kim tiêm;
- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel kèm 01 sim của bị cáo Chu D;
- Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone kèm 01 sim cho bị cáo Nguyễn Đức Th;
- Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel kèm 01 sim cho bị cáo Trần Mạnh H.
Các khoản trên theo Biên bản giao nhận vật chứng số 167/BB-THA ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh.
5. Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Chu D, Nguyễn Đức Th, Trần Mạnh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Chu D, Nguyễn Đức Th, Trần Mạnh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức Th1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND TP HL; - Cơ quan điều tra Công an TP HL; - Cơ quan THAHS Công an TP HL; - Đội hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công an thành phố HL; - Chi cục THADS TP HL; - TTG công an tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Bạch Bích |