- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thực + Hóa - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn Th; Lò Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:116/2023/HS-ST Ngày: 22/8/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Luyến; La Thị Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 22/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2023/TLST-HS, ngày 20/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:116/2023/QĐXXST-HS ngày 09/8/2023 đối với các bị cáo:
1. Lò Văn Th - Sinh ngày 02/8/2002 tại huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản Ng B, xã M K, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Ó – sinh năm 1971 và bà: Lò Thị Th1 – sinh năm 1972; Gia đình có 4 chị, em bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 11/5/2023, tạm giam từ ngày 20/5/2023, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên. (Có mặt).
2. Lò Văn H - Sinh ngày 19/3/1999 tại huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản L 1, xã T M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn H1 – sinh năm 1970 và bà: Lò Thị U – sinh năm 1972; Gia đình có 03 anh, em bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 11/5/2023, tạm giam từ ngày 20/5/2023, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên. (Có mặt).
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. ông Lò Văn H1 – sinh năm 1970. Trú tại: Bản L 1, xã T M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (có mặt)
2. anh Lưu Văn Tr – sinh năm 1990. Trú tại: Bản Ng B, xã M K, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 10/5/2023, Lò Văn Th nhắn tin qua Zalo cho Lò Văn H với nội dung: bảo H đến sáng ngày 11/5/2023 xuống bản Hỳ, xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu đón Th để mang điện thoại của Th đi cầm cố lấy tiền mua Heroine cùng nhau sử dụng, Lò Văn H đồng ý. Đến khoảng 05 giờ ngày 11/5/2023, H lấy xe mô tô của gia đình đi từ nhà tại bản L 1, xã T M, huyện Than Uyên xuống bản Hỳ, xã Ta Gia, huyện Than Uyên đón Lò Văn Th. Sau đó, H và Th mang chiếc điện thoại OPPO A1K, màu đen của Th đến cầm cố với anh Lưu Văn Tr, sinh năm 1990, trú tại bản Ng B, xã M K, huyện Than Uyên lấy số tiền 350.000 đồng. Sau khi có tiền, H điều khiển xe mô tô chở Th đi lên bản N Th, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Tại đây, Th hỏi mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine, Th và H cùng nhau lấy 01 ít trong gói Heroine mua được sử dụng bằng hình thức chích. Số Heroine còn lại, Th cầm trong tay phải, ngồi sau xe để H điều khiển chở mang Heroine về nhà H tại bản L 1, xã T M, huyện Than Uyên để sử dụng. Khi H và Th về đến bản Ng B, xã M K, huyện Than Uyên thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang hồi 08 giờ 50 phút cùng ngày. V t chứng thu giữ của Lò Văn Th, Lò Văn H 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Lò Văn H 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WAVE SD, biển kiểm soát 25T1-2805 và 01 điện thoại Redmi 9A, màu đen; thu giữ trong túi quần bên phải của Lò Văn Th 01 bơm kim tiêm. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 điện thoại di động OPPO A1K màu đen của Lò Văn Th cầm cố do anh Lưu Văn Tr giao nộp.
Tại bản kết lu n giám định tư pháp số 69 ngày 11/5/2023 của người giám định theo vụ việc Công an huyện Than Uyên và kết lu n giám định số 548 ngày 14/5/2023 của phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết lu n: số chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn Th, Lò Văn H có khối lượng 0,27 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Vật ch ng c a v án g m: 0,27 gam Heroine đã gửi giám định hết; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A1k màu đen tạm giữ của Lưu Văn Tr; 01 điện thoại Redmi 9A, màu đen tạm giữ của Lò Văn H; 01 bơm kim tiêm.
Đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WAVE SD, biển kiểm soát 25T1-2805 thu giữ của Lò Văn H. Quá trình điều tra xác định: chiếc xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bố đ Lò Văn H là ông Lò Văn H1, sinh năm 1970, trú tại bản L 1, xã T M, huyện Than Uyên. Ông H1 không biết H dùng xe vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý v t chứng trao trả lại chiếc xe cho ông Lò Văn H1.
V t chứng còn lại của vụ án hiện đang được lưu giữ, bảo quản theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: những người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan là ông Lò Văn H1, anh Lưu Văn Tr không có yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 91/CT –VKS, ngày 20/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố các bị cáo Lò Văn Th; Lò Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời lu n tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn Th; Lò Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 47 Bộ lu t hình sự; Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Lò Văn H từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ lu t hình sự đối với các bị cáo.
Về xử lý v t chứng: tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 01 mảnh ni lon màu hồng; 01 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng); 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Tịch thu xung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A1k màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn H. Bị cáo Lò Văn Th phải chịu án phí theo quy định.
Các bị cáo Lò Văn Th; Lò Văn H không có ý kiến tranh lu n gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để các bị cáo được sớm trở về hòa nh p với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích và xin được miễn toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã Th hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi ngh a vụ liên quan không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã Th hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, v t chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu th p trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết lu n: Khoảng 21 giờ ngày 10/5/2023, Lò Văn Th nhắn tin qua điện thoại rủ Lò Văn H: đến ngày 11/5/2023 lấy xe mô tô của gia đình H dùng làm phương tiện chở Th đi mua Heroine, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 11/5/2023, H điều khiển xe mô tô đến đón và chở Th mang điện thoại của Th đến cầm cố với anh Lưu Văn Tr lấy 350.000 đồng. Sau đó, H chở Th lên bản N Th, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Tại đây, Th trực tiếp mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine, Th và H cùng nhau sử dụng một ít. Số Heroine còn lại, Th cầm trong tay phải, rồi ngồi sau xe mô tô để H điều khiển mang Heroine về nhà, mục đích để sử dụng. Đến hồi 08 giờ 50 phút ngày 11/5/2023, H và Th đi đến bản Ng B, xã M K, huyện Than Uyên thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang. V t chứng thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,27 gam.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Lò Văn Th; Lò Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 – Bộ lu t hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp lu t, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Các bị cáo chính là nạn nhân của ma túy, nên hiểu hơn ai hết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc. Nhưng với lối sống buông thả, coi thường pháp lu t. Ngày 11/5/2023 các bị cáo cố ý thực hiện hành vi mua trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,27 gam nhằm mục đích để sử dụng cho nhu cầu thấp hèn của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm tr t tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý th t nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét về vai trò cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội với mục đích là để sử dụng chất ma túy. Bị cáo Lò Văn Th là người khởi xướng, rủ rê, bị cáo Lò Văn H cùng thực hiện hành vi phạm tội, người tìm tiền, trực tiếp mua và cất giấu ma túy... Nên bị cáo phải chịu vai trò đầu vụ, chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn.
Đối với bị cáo Lò Văn H, khi được bị cáo Th khởi xướng, rủ rê cùng đi mua ma túy sử dụng thì bị cáo đã đồng ý ngay và là người thực hiện một cách tích cực, như chủ động dùng xe mô tô của mình làm phương tiện phạm tội …Nên bị cáo cũng phải chịu một hình phạt tương xứng với vai trò của mình. Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, bị cáo Lò Văn H là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ lu t hình sự, cần xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ lu t Hình sự quy định hình phạt bổ sung. Nhưng theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình các bị cáo đang khó khăn, các bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về v t chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong bên trong đựng 01 mảnh ni lon màu hồng; 01 bơm kim tiêm; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số v t chứng này là v t không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của hai bị cáo. Xét thấy trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã dùng điện thoại trao đổi, thống nhất...Nên cần tịch thu, nên cần tịch thu xung ngân sách Nhà nước.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi ngh a vụ liên quan Lò Văn H1; Lưu Văn Tr đều không có yêu cầu, đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không đề c p.
Về nguồn gốc Heroine, các bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn H là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Do v y cần chấp nh n. Bị cáo Lò Văn Th phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 47 Bộ lu t hình sự; Điều 106; 135;136; 331; 333 Bộ lu t tố tụng hình sự; điển đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn Th; Lò Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
2.Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 02 (hai) năm tù.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn H 20 (hai mươi) tháng tù.
Thời hạn tù của các bị cáo được tính từ ngày bắt tạm giữ là 11/5/2023.
3. Về vật ch ng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 01 mảnh ni lon màu hồng; 01 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng); 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A1k màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 24/7/2023 ).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn H. Bị cáo Lò Văn Th phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có QLNVLQ có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. người có quyền lợi ngh a vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Than Uyên. - VKSND tỉnh Lai Châu. - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu. - Các bị cáo. - Người có QLNVLQ. - CA huyện Than Uyên. - CQTHAHS huyện Than Uyên. - Chi cục THADS huyện Than Uyên. - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Xuân Thu |