- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Mỹ H - Phan Thị U - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Mỹ H, Phan Thị Ú phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ Luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ Luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU Bản án số: 116 /2023/HS-ST Ngày: 12-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Sơn
Bà Trần Thị Mộng Thu
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Quốc Tín.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Nguyễn Thị Thu Kiều.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 122/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 06 năm 2023 về tội “Đánh bạc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 06 năm 2023 đối với:
Các bị cáo: 1. Trần Thị Mỹ H, Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1979, tại: Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
Nơi cư trú: Tổ 2, ấp Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Cha: Trần Văn N, sinh năm: 1957; Mẹ: Phan Thị N1, sinh năm 1955; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có năm chị em. Chồng: Nguyễn Đô S, sinh năm: 1966; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm: 1998 và nhỏ nhất sinh năm: 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được tại ngoại.
2. Phan Thị Ú, Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1961, tại: Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
Nơi cư trú: Tổ 2, ấp Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Nội trợ. Cha: Phan Văn R (đã chết); Mẹ: Bùi Thị X (đã chết); Bị cáo là con thứ năm trong gia đình có năm anh chị em. Chồng: Lê Văn D, sinh năm: 1960; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm: 1987 và nhỏ nhất sinh năm: 1991.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được tại ngoại.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Mỹ H bắt đầu ghi bán số đề từ khoảng tháng 02/2022 đến ngày 09/10/2022 thì bị phát hiện bắt quả tang. Hằng ngày, H bán số đề trực tiếp ngay tại nhà của H thuộc tổ B, ấp Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, người nào có nhu cầu mua số đề đến gặp H tại nhà mua số và đưa tiền cho H hoặc gọi điện, nhắn tin qua số điện thoại xxxxxxxxxx để mua. Khi có người đến mua số đề, H sẽ ghi số tiền và con số người mua vào một tờ giấy nhỏ (giấy lịch hoặc giấy tập học sinh) đưa cho người mua để làm căn cứ chung chi tiền thắng thua khi có kết quả xổ số, rồi H ghi lại vào một tờ giấy lớn để tổng hợp (phơi đề). Sau khi tính toán tiền thắng thua H xé bỏ các phơi đề, xóa tin nhắn trên điện thoại để tránh bị phát hiện. Sau khi có kết quả xổ số, H tính toán tiền thắng thua, những người mua số đề nào thắng cầm tờ phơi đến nhà gặp H để lấy tiền. H bán số đề cho nhiều người trong đó gồm có Phan Thị Ú sử dụng số điện thoại xxxxxxxxxx để liên hệ mua số đề với H, một số người có tên Q, C, T, T1, Bé, B và nhiều người khác (tất cả không rõ nhân thân, lai lịch) nhưng không nhớ cụ thể bán cho ai đài nào, số tiền bao nhiêu (vì không còn phơi đề những ngày trước đó). H bán số đề đài miền N và đài miền B, cụ thể như sau:
- Đài miền N: Bán đầu đuôi, bao lô 02 con số, bao lô 03 con số, xỉu chủ, đá ngay 02 cặp 02 con một đài (bộ B3), đá ngay 03 cặp 02 con một đài (bộ C1), đá xiên 02 cặp 02 con hai đài (bộ B3), đá xiên 03 cặp 02 con hai đài (bộ C1). Bán đầu đuôi là lấy hai con số của giải tám và hai con số cuối cùng của giải đặc biệt (02 lô); bao lô hai con số là lấy hai con số cuối của tất cả các giải từ giải tám cho đến giải đặc biệt (18 lô); bao lô ba con số là lấy ba con số cuối cùng từ giải bảy cho đến giải đặc biệt (17 lô) có cùng mức chi thưởng mua 1.000đ nếu trúng sẽ được 70.000đ. Xỉu chủ là lấy ba con số của giải bảy và ba con số cuối cùng của giải đặc biệt (02 lô); đá ngay 02 cặp 02 con một đài (bộ B3) là lấy 02 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải tám đến giải đặc biệt (36 lô); đá ngay 03 cặp 02 con một đài (bộ C1) là lấy 03 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải tám đến giải đặc biệt (108 lô) có mức chi thưởng mua 1.000đ nếu trúng sẽ được 600.000đ. Đá xiên (xiên) 02 cặp 02 con hai đài (bộ B3) là lấy 02 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải tám đến giải đặc biệt của hai đài (72 lô); đá xiên (xiên) 03 cặp 02 con hai đài (bộ C1) là lấy 03 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải tám đến giải đặc biệt của hai đài (216 lô), có cùng mức chi thưởng mua 1.000đ nếu trúng sẽ được 500.000đ.
- Đài miền B: Bán đầu đuôi, bao lô 02 con số, bao lô 03 con số, xỉu chủ, đá 02 cặp 02 con (bộ B3), đá 03 cặp 02 con (bộ C1). Bán đầu đuôi là lấy hai con số đầu của giải bảy và hai con số cuối cùng của giải đặc biệt (05 lô), có mức chi thưởng mua 1.000đ nếu trúng sẽ được 70.000đ; bao lô hai con số là lấy hai con số cuối của tất cả các giải từ giải bảy cho đến giải đặc biệt (27 lô) có cùng mức chi thưởng mua 1.000đ nếu trúng sẽ được 75.000đ; Xỉu chủ là lấy ba con số của giải sáu và ba con số cuối cùng của giải đặc biệt (04 lô), có mức chi thưởng mua 1.000đ nếu trúng sẽ được 630.000đ. Bao lô ba con số là lấy ba con số cuối cùng từ giải sáu cho đến giải đặc biệt (23 lô), đá 02 cặp 02 con (bộ B3) là lấy 02 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải bảy đến giải đặc biệt (54 lô), đá 03 cặp 02 con (bộ C1) là lấy 03 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải bảy đến giải đặc biệt (162 lô), có cùng mức chi thưởng mua 1.000đ nếu trúng sẽ được 600.000đ.
Các hình thức nêu trên đều dựa theo kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày của từng đài để làm cơ sở chung chi khi có người trúng.
Đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 09/10/2022, Công an xã A bắt quả tang H đang có hành vi tổng hợp phơi đề. Thu giữ của H 05 tờ phơi đề và một số dụng cụ phục vụ việc ghi bán số đề.
Tại Bản kết luận giám định số 5800/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
1. Trích xuất toàn bộ dữ liệu tin nhắn văn bản (SMS) lưu trong điện thoại gửi giám định điện thoại di động nhãn hiệu S1 A8, màu đen trong khoảng thời gian từ 07 giờ 00 phút ngày 09/10/2021 đến 17 giờ 00 phút ngày 09/10/2022. Chi tiết dữ liệu lưu trong đĩa DVD-R kèm theo Kết luận giám định này.
2. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn văn bản (SMS) lưu trong điện thoại gửi giám định nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen thời gian từ 07 giờ 00 phút ngày 09/10/2021 đến 17 giờ 00 phút ngày 09/10/2022.
3. Trích xuất toàn bộ dữ liệu tin nhắn văn bản (SMS) lưu trong điện thoại gửi giám định điện thoại di động nhãn hiệu Nokia G10, màu đen trong khoảng thời gian từ 07 giờ 00 phút ngày 09/10/2021 đến 17 giờ 00 phút ngày 09/10/2022. Chi tiết dữ liệu lưu trong đĩa DVD-R kèm theo Kết luận giám định này.
Căn cứ lời khai của các bị caó và nội dung trích xuất trong điện thoại của các bị cáo xác định số tiền dùng để đánh bạc (bán số đề) của bị cáo Trần Thị Mỹ H, cụ thể như sau: Từ ngày 24/7/2022 đến ngày 09/10/2022, H bán số đề tổng cộng 46 ngày, trong đó có 42 ngày số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ, 04 ngày số tiền đánh bạc trên 5.000.000đ, gồm:
- Ngày 05/9/2022: Đài thành phố H với tổng số tiền đánh bạc 24.303.000đ (gồm đầu đuôi: 825.000đ, trúng: 21.000.000đ; bao lô 2 con: 720.000đ, trúng: 1.050.000đ; đá bộ C1 con số: 108.000đ, trúng: 600.000đ).
- Ngày 12/9/2022: Đài thành phố H với tổng số tiền đánh bạc 17.346.000đ (gồm đầu đuôi: 1.970.000đ, trúng: 14.000.000đ; bao lô 2 con: 810.000đ, trúng: 350.000đ; đá bộ C1 con số: 216.000đ).
- Ngày 16/9/2022:
+ Đài B với tổng số tiền đánh bạc 9.566.000đ (gồm đầu đuôi; 550.000đ, trúng: 5.250.000đ; bao lô 2 con: 1.980.000đ, trúng: 1.400.000đ; bao lô 3 con: 170.000đ, đá bộ C1 con số: 216.000đ).
+ Đài miền B1 với tổng số tiền đánh bạc 1.509.000đ (gồm bao lô 2 con: 810.000đ, trúng: 375.000đ, đá bộ C1 con số: 324.000đ).
- Ngày 09/10/2022:
+ Đài miền N: Đài T với tổng số tiền đánh bạc: 14.555.000đ (gồm bao lô 02 con: 5.540.000đ, trúng: 1.400.000đ; đầu đuôi; 4.791.000đ; đá ngay: 1.692.000; đá xiên: 972.000đ, xỉu chủ: 160.000đ
+ Đài miền B: với tổng số tiền đánh bạc 486.000đ (đá bộ ba con số).
Mở rộng điều tra, xác định từ ngày 06/8/2022 đến ngày 09/10/2022, Phan Thị Ú mua số đề của H tổng cộng 44 ngày, trong đó có 42 ngày số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ, 02 ngày số tiền đánh bạc trên 5.000.000đ, gồm như sau:
- Ngày 05/9/2022: Đài thành phố Hồ Chí Minh tổng số tiền đánh bạc 24.303.000đ (gồm đầu đuôi: 825.000đ, trúng 21.000.000đ; Bao lô 02 con số: 720.000đ, trúng 1.050.000đ; Đá bộ 03 con số: 108.000đ, trúng 600.000đ).
- Ngày 16/9/2022:
+ Đài miền N: Đài B với tổng số tiền đánh bạc 6.798.000đ (gồm bao lô 02 con số: 720.000đ; đầu đuôi: 550.000đ, trúng 5.250.000đ; đá bộ C2 con số: 108.000đ; bao lô 03 con số: 170.000đ).
+ Đài miền B với tổng số tiền đánh bạc 1.509.000đ (Gồm bao lô 02 con số: 810.000đ, trúng 375.000đ; đá bộ C2 con số: 324.000đ).
Số tiền thu lợi bất chính của Phan Thị Ú là 18.455.000đ, Trần Thị Mỹ H do số tiền trúng đề phải chung chi nhiều hơn số tiền mua đề (đã được tính toán) nên thực tế H chưa thu lợi bất chính từ việc ghi bán số đề.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Mỹ H và Phan Thị Ú đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Qua điều tra xác định các số thuê bao di động nhắn tin mua số đề của H gồm: Số I do anh Tạ Thanh T2 (sinh năm: 1982, HKTT: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh BRVT) đứng tên chủ thuê bao và số xxxxxxxxxx do Nguyễn Thị Ngọc D1 (sinh năm: 1996, HKTT: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh BRVT) đứng tên chủ thuê bao, qua làm việc anh T2 và chị D1 xác định không đăng ký và không sử dụng thuê bao trên, hiện ai sử dụng thì anh T2 và chị D1 không biết. Số xxxxxxxxxx do chị Mai Thị H1 (sinh năm: 1980, HKTT: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh BRVT) đứng tên chủ thuê bao và số xxxxxxxxxx do bà Lường Thị N2 (sinh năm: 1962, HKTT: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) đứng tên chủ thuê bao, qua xác minh chị H1 và bà N2 hiện không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- Số tiền 23.700.000đ (trong đó thu giữ của H 4.645.000đ, thu giữ của Ú 600.000đ, Ú tự nguyện giao nộp thêm số tiền thu lợi bất chính 18.455.000đ). 01 điện thoại di động, nhãn hiệu S1 A8, màu đen, có gắn thẻ sim số xxxx.xxx.xxx, đã qua sử dụng; 01 cây bút bi màu xanh thu giữ của Trần Thị Mỹ H. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia G10, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Ú. Hiện đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý.
- 05 tờ giấy, có nhiều kích thước khác nhau ghi chữ và các con số (phơi đề) và 01 USB trích xuất dữ liệu điện tử liên quan đến việc ghi bán số đề, hiện lưu theo hồ sơ vụ án.
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen, không gắn thẻ sim, đã qua sử dụng, thu giữ của H, đây là tài sản cá nhân không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng, giao trả điện thoại cho H.
Tại bản cáo trạng số: 121/CT-VKSLĐ, ngày 22-6-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Long Điền để xét xử bị cáo Trần Thị Mỹ H và bị cáo Phan Thị Ú về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo nội dung của bản cáo trạng; đề nghị như sau:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 35 BLHS, đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Thị Mỹ H từ 70.000.000đ - 80.000.000đ; Bị cáo Phan Thị Ú từ 45.000.000đ
- 55.000.000đ.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây bút bi màu xanh.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: Số tiền 23.700.000đ. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu S1 A8, màu đen, có gắn thẻ sim số xxxx.xxx.xxx, đã qua sử dụng. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia G10, màu đen, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh tụng; các bị cáo nói lời nói sau cùng đã ăn năn hối cải, hứa sẽ không tái phạm và xin được giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Mỹ H và bị cáo Phan Thị Ú đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trần Thị Mỹ H có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số đề cho Phan Thị Ú và nhiều người khác tại nhà của H thuộc tổ B, ấp Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, từ ngày 24/7/2022 đến ngày 09/10/2022, trong đó có 04 ngày tổng số tiền đánh bạc của Đài miền N trên 5.000.000đ cụ thể như sau: Ngày 05/9/2022 là 24.303.000đ, ngày 12/9/2022 là 17.346.000đ, ngày 16/9/2022 là 9.566.000đ, 09/10/2022 là 14.555.000đ.
Phan Thị Ú có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề của H từ ngày 06/8/2022 đến ngày 09/10/2022, trong đó có 02 ngày tổng số tiền đánh bạc của Đài miền N trên 5.000.000đ cụ thể như sau: Ngày 05/9/2022 là 24.303.000đ, ngày 16/9/2023 là 6.798.000đ.
Như vậy hành vi của các bị cáo Trần Thị Mỹ H và bị cáo Phan Thị Ú đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như sau: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này … mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Bị cáo Trần Thị Mỹ H và bị cáo Phan Thị Ú có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc dưới hình thức bán số đề và mua số đề là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi vẫn cố ý thực hiện; Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý Nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây dư luận xấu trong xã hội nên cần xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội; nhưng quá trình lượng hình có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức độ hậu quả của hành vi phạm tội gây ra để quyết định mức hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phan Thị Ú đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả; Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 35 của Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội cũng như giáo dục phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Vì hình phạt chính là hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Trong khoảng thời gian từ ngày 24/7/2022 đến ngày 09/10/2022 trong đó có 42 ngày Trần Thị Mỹ H có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số đề với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ và Phan Thị Ú trong khoảng thời gian từ ngày 06/8/2022 đến ngày 09/10/2022 có 42 ngày có hành vi mua số đề với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ. Bản thân H và Ú chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của H và Ú chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 BLHS đối với các ngày đánh bạc trên.
Đối với Q, C, T, T1, B2, B và những người sử dụng thuê bao các số điện thoại xxxxxxxxxx, xxxxxxxxxx (hiện tất cả không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi mua số đề của H, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là đúng quy định.
Về vật chứng trong vụ án: 01 cây bút bi màu xanh là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 23.700.000đ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu S1 A8, màu đen, có gắn thẻ sim số xxxx.xxx.xxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia G10, màu đen, đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
05 tờ giấy, có nhiều kích thước khác nhau ghi chữ và các con số (phơi đề) và 01 USB trích xuất dữ liệu điện tử liên quan đến việc ghi bán số đề là vật chứng trong vụ án cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Mỹ H, Phan Thị Ú phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Các Điều 17, 58, 35 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ H 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Các Điều 17, 58, 35 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Ú 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi màu xanh.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: Số tiền 23.700.000đ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu S1 A8, màu đen, có gắn thẻ sim số xxxx.xxx.xxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia G10, màu đen, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo biên bản giao nhận vật chứng số 124/BB-CCTHADS ngày 22-6-2023 và theo biên lai thu tiền số 0001569 ngày 30-6-2023 của cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu).
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 05 tờ giấy, có nhiều kích thước khác nhau ghi chữ và các con số (phơi đề) và 01 USB trích xuất dữ liệu điện tử liên quan đến việc ghi bán số đề.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trần Thị Mỹ H, Phan Thị Ú mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12-7-2023), các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để yêu cầu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh BRVT; - Tòa án nhân dân tỉnh BRVT; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BRVT; - Công an tỉnh BRVT (PV06, PC10); - VKS huyện Long Điền; - CA huyện Long Điền; - Chi cục THADS huyện Long Điền; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thu Hiền THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Hiền |