- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Thái Thị Cẩm H Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung với anh Phùng An K"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Thái Thị Cẩm H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/7/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
2/. Ông Huỳnh Văn Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 217/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thái Thị Cẩm H, sinh năm 1988 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Anh Phùng An K, sinh năm 1980 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thái Thị Cẩm H trình bày:
Tôi và anh Phùng An K do mai mối nên quen biết nhau kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 65, quyển số 1 ngày 18/7/2006. Sau khi kết hôn chúng tôi sống chung với gia đình chồng, sau đó làm nhà ở riêng. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2010 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh K quen với người phụ nữ khác, tôi có nói sự việc này với anh K thì anh K thừa nhận và hứa sửa đổi nên vợ chồng hòa thuận được với nhau. Đến năm 2014 thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn cũng do anh K quen với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Từ đó anh K đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh ít về thăm vợ con. Hiện nay anh K đã sống chung với người phụ nữ khác ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi có khuyên anh K thay đổi để lo cho vợ con nhưng không có kết quả. Hiện nay mâu thuẫn gia đình tôi đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được.
Về con chung: Có 03 con chung là cháu Phùng Thục N, sinh ngày 13/01/2008, Phùng Đông N1, sinh ngày 23/5/2010 và Phùng Khương T, sinh ngày 04/11/2014. Ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung do từ trước đến nay 03 con chung do tôi trực tiếp nuôi dưỡng. Theo đơn khởi kiện tôi yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng/con chung cho đến khi các con chung trưởng thành, nay tôi rút lại yêu cầu về cấp dưỡng, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phùng An K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Phùng An K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến dự phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị H có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh K, chị H.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, theo đơn khởi kiện, chị H yêu cầu được ly hôn với anh K và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H, anh K có đăng ký kết hôn hợp pháp nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh K có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị H, anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 65, quyển số 1 ngày 18/7/2006 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị H trình bày mâu thuẫn gia đình giữa chị và anh K là do anh K quen với người phụ nữ khác và hiện nay cũng đang sống chung với người phụ nữ khác từ đó làm cho vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không hạnh phúc. Ngoài ra vợ chồng chị còn thường xuyên cãi nhau và anh K sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh ít khi về thăm vợ con.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án chị H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Anh K mặc dù đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về nội dung vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Điều đó chứng tỏ chị H và anh K đã không còn tha thiết với cuộc sống vợ chồng.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng anh K và chị H không còn quan tâm nhau, không cùng nhau chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng nên mâu thuẫn gia đình giữa chị H và anh K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, chị H và anh K có 03 con chung là cháu Phùng Thục N, sinh ngày 13/01/2008, Phùng Đông N1, sinh ngày 23/5/2010 và cháu Phùng Khương T, sinh ngày 04/11/2014. Xét thấy, từ trước đến nay, anh K sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và tại bản tự khai ngày 13/6/2023 cháu Thục N, cháu Đông N1 và cháu T có nguyện vọng mong muốn được tiếp tục sống chung với chị H. Do đó để đảm bảo môi trường sống và học tập ổn định của các con chung, cần tiếp tục giao 03 con chung cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo đơn khởi kiện chị H yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng/con chung cho đến khi các con chung trưởng thành, tuy nhiên trong giai đoạn hoà giải chị H rút lại yêu cầu về cấp dưỡng, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị H nên Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề cấp dưỡng.
Về nợ chung và tài sản chung: Chị H và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Thái Thị Cẩm H.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị Cẩm H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị Cẩm H được ly hôn với anh Phùng An K.
Về con chung: Giao cháu Phùng Thục N, sinh ngày 13/01/2008, cháu Phùng Đông N1, sinh ngày 23/5/2010 và cháu Phùng Khương T, sinh ngày 04/11/2014 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh K chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H chưa yêu cầu.
Anh K có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0017536 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên chị H đã thi hành xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - UBND xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Giang |