vanban.org

Bản án 116/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Phan Văn L về việc yêu cầu chia tài sản chung với bà Đào Kim H. Buộc bà Đào Kim H phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Phan Văn L 50% giá trị của phần đất là tài sản chung của ông Phan Văn L và bà Đào Kim H t ng diện t ch là 8.800m2 (theo đo đạc thực tế diện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn và nuôi con do mâu thuẫn vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2023/HNGĐ – ST
Ngày 08 - 6 - 2023
V/v Tranh chấp “Chia tài sản sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sol

Ông Nguyễn Văn Mầm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải- Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện cái Nước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mãy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 381/2020/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 8 năm 2020 về tranh chấp “Chia tài sản sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 giữa:

-Nguyên đơn: Ông Phan Văn L, sinh năm 1955 (Có mặt).

Địa chỉ: p G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

-Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Phan Văn L: Luật sư Du Thị B - Văn phòng luật sư Mũi Cà Mau thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (Có mặt).

-Bị đơn: Bà Đào Kim H, sinh năm 1957 (Vắng mặt)

Địa chỉ: p G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

-Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan:

1. Anh Đ Văn T, sinh năm 1978(Có mặt).

2. Chị Hu nh Thị T, sinh năm 1981(Có mặt).

3. Ông Phan Văn G, sinh năm 1957 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: p G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

4. Ủy ban nhân dân huyện Cái Nước (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn kh i kiện ngày tháng 0 năm 0 và các lời khai tại Tòa án ông Phan Văn L (Nguyên đơn) trình bày:

Ông và bà Đào Kim H kết hôn năm 1980 và đã ly hôn tại Bản án số: 99/2019/HNGĐ-ST, ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, đối với tài sản chung tự th a thuận không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay ông và bà H không th a thuận được với nhau về tài sản chung nên ông có yêu cầu chia tài sản chung như sau:

Trong quá tr nh chung sống, ông và bà H có tài sản chung là phần đất được cha m ông cho, ông được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất năm 1996, diện t ch 8.800 m2, tại t bản đ số 01, thửa 54, 55, t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Trên đất có một căn nhà cơ bản do vợ ch ng xây dựng hiện do bà H quản lý sử dụng nhà và toàn bộ phần đất. Đối với các con chung đã trư ng thành và có gia đ nh riêng không sinh sống tại phần đất tranh chấp. Nay đối với phần đất đo đạc thực tế diện t ch là 10.507,5 m2 th ông yêu cầu nhận 60% giá trị theo như kết quả định giá tài sản và chia cho bà H 40% giá trị. Ông đ ng ý chỉ nhận giá trị và đ ng ý giao toàn bộ phần đất cho bà H tiếp tục quản lý sử dụng đất. Đối với căn nhà trên phần đất và các vật dụng sinh hoạt trong gia đ nh, ông không yêu cầu chia mà đ ng ý giao lại toàn bộ cho bà H tiếp tục quản lý sử dụng.

Về nợ chung: Năm 2016 ông và bà H có nợ nên thống nhất cố phần đất diện t ch 8.800 m2 t bản đ số 01, thửa 54, 55, t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau cho vợ ch ng anh T và chị T với giá là 80 chỉ vàng 24k, th i hạn 03 năm, giao vợ ch ng anh T giữ bản ch nh giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đến nay. Sau khi cố đất, vợ ch ng anh T cho ông và bà H thuê lại phần đất, t năm 2018 đến nay chưa trả tiền thuê đất. Nay ông chỉ đ ng ý trả cho vợ ch ng anh T số vàng cố đất 17 chỉ vàng 24k và số vàng thuê đất 07 chỉ vàng 24k; t ng cộng là 02 lượng 5 chỉ vàng 24k; Phần nợ còn lại giao cho bà H trả hết.

Tại các lời khai tại Tòa án, bà Đào Kim H (Bị đơn) trình bày: Bà và ông L kết hôn năm 1980, đã ly hôn tại Bản án số: 99/2019/HNGĐ- ST, ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, đối với tài sản chung tự th a thuận không yêu cầu giải quyết. Bà và ông L có tài sản chung phần đất do cha m ch ng cho diện t ch là 8.800 m2 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất t bản đ số 01, thửa 54, 55, t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Hiện bà đang quản lý sử dụng căn nhà và phần đất này. Các con chung của bà và ông L đã trư ng thành và sinh sống nơi khác, không trên phần đất tranh chấp. T khi bà quản lý đất đến nay có cải tạo ban b , giá trị cải tạo là 3.025.000 đ ng. Đối với căn nhà trên phần đất diện t ch 8.800 m2 và các vật dụng sinh hoạt trong gia đ nh, ông L không yêu cầu chia mà đ ng ý để lại cho bà tiếp tục quản lý sử dụng th bà đ ng ý. Bà không đ ng ý chia cho ông L mà yêu cầu tiếp tục quản lý sử dụng toàn bộ phần đất diện t ch là 8.800 m2, t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Về nợ chung: Năm 2016 bà và ông L có nợ nên cố phần đất diện t ch 8.800 m2 t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau cho vợ ch ng anh T và chị T với giá là 80 chỉ vàng 24k, th i hạn 03 năm, giao vợ ch ng anh T giử giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đến nay. Sau đó, ông L và bà th a thuận với vợ ch ng anh T thuê lại phần đất canh tác, giá m i năm là 08 chỉ vàng 24k. Ông L và bà có trả tiền thuê đất trong năm 2016- 2017 và t năm 2017 đến nay không trả vàng thuê đất. Nay bà đ ng ý trả cho anh T và chị T số vàng cố đất là 80 chỉ vàng 24k và số vàng thuê đất t năm 2018- 2020 là 24 chỉ vàng 24k, t ng cộng là 104 chỉ vàng 24k nếu như Tòa án giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà mà không phân chia cho ông L.

Tại các lời khai tại tòa án, anh Đ Văn T và chị Huỳnh Thị T( Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan) trình bày:

Năm 2016 ông L và bà H có cố phần đất diện t ch 8.800 m2 cho vợ ch ng anh chị với giá là 80 chỉ vàng 24k, th i hạn 03 năm, giao vợ ch ng anh giữ bản chính giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đến nay. Sau đó ông L và bà H th a thuận thuê lại phần đất để canh tác, giá m i năm là 08 chỉ vàng 24k, có trả tiền thuê đất năm 2016- 2017 và t năm 2017 đến nay không trả. Hiện phần đất do bà H đang quản lý canh tác. Nay anh chị yêu cầu ông L và bà H trả số vàng cố đất là 80 chỉ vàng 24k và số vàng thuê đất t năm 2018-2020 là 24 chỉ vàng 24k, t ng cộng là 104 chỉ vàng 24k. Sau khi trả xong, anh chị đ ng ý trả lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, việc chấp hành pháp luật của ngư i tham gia tố tụng dân sự, là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản của ông L đối với bà H là phần đất diện tích là 10.507,5 m2. Giao nhà và đất cho bà H tiếp tục quản lý sử dụng, bà H có trách nhiệm giao lại cho ông L ½ giá trị phần đất số tiền là 1.752.000.000 đ ng. Buộc ông L có nghĩa vụ trả cho anh T và chị T số vàng cố đất là 40 chỉ vàng 24k và số vàng thuê đất là 08 chỉ vàng 24k, t ng cộng là 48 chỉ vàng 24k. Buộc bà H có nghĩa vụ trả cho anh T và chị T số vàng cố đất là 40 chỉ vàng 24k và số vàng thuê đất là 16 chỉ vàng 24k, t ng cộng là 56 chỉ vàng 24k.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn c vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đ ng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa ông L và bà H là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc “Chia tài sản sau ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông L, bà H và tài sản là quyền sử dụng đất tranh chấp đều tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung tranh chấp của vụ án:

Phần đất tranh chấp giữa ông L và bà H theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất được cấp diện t ch là 8.800m2, với diện t ch theo đo đạc thực tế là 10.507,5 m2 t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Theo kết quả định giá phần đất tranh chấp có giá trị quyền sử dụng đất và đất tr ng cây lâu năm là 2.734.934.055 đ ng; Giá trị quyền sử dụng đất nuôi tr ng thủy sản là 768.700.380 đ ng, t ng cộng giá trị là 3.504.000.000 đ ng. Trên đất có căn nhà cơ bản, 01 ngôi mộ và các cây tr ng, hiện do bà H đang quản lý sử dụng toàn bộ phần đất. Ông L và bà H thống nhất có tài sản chung là phần đất được cha m ông L cho, ông L được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất năm 1996, với diện t ch là 8.800 m2, tại t bản đ số 01, thửa 54, 55, t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Ông L yêu cầu phần đất ông nhận bằng giá trị của quyền sử dụng đất tương ng 60% và đ ng ý chia cho bà H 40%, đ ng ý giao toàn bộ quyền sử dụng đất, nhà cửa, cây cối và công tr nh kiến trúc trên đất lại cho bà H. Phía bà H yêu cầu được quản lý sử dụng toàn bộ phần đất và không đ ng ý chia cho ông L. Hội đ ng xét xử xét thấy, ông L và bà H thống nhất phần đất diện t ch là 8.800 m2, đo đạc thực tế diện t ch là 10.507,5 m2, là tài sản chung của vợ ch ng trong th i k hôn nhân, có ngu n gốc được cha m ông L cho, ông L đã được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất năm 1996. Mặc dù bà H không đ ng ý chia phần đất cho ông L nhưng phía bà H không có ch ng c g ch ng minh đây là tài sản riêng của bà H. Xét ngu n gốc phần đất diện tích là 8.800 m2 (đo đạc thực tế diện t ch là 10.507,5 m2), là của ông L và bà H được cha m ông L cho và ông L đã được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. T cơ s đó không có cơ s chấp nhận l i tr nh bày của bà H về việc không đ ng ý chia phần đất cho ông L. Mà có cơ s xác định là tài sản chung của vợ ch ng trong th i k hôn nhân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật hôn nhân gia đ nh năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ ch ng g m tài sản do vợ, ch ng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, H lợi, lợi t c phát sinh t tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong th i k hôn nhân; tài sản mà vợ ch ng được th a kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ ch ng th a thuận là tài sản chung”. Căn c theo khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đ nh và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trư ng Bộ Tư pháp. Theo đó, đối với việc công s c đóng góp vào khối tài sản chung này, do ông L và và bà H cùng cải tạo trên phần đất này nên công s c đóng góp của ông, bà xem như bằng nhau. Đ ng th i đối với yếu tố l i của m i bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ ch ng th tại bản án hôn nhân và gia đ nh số 99/2019/HNGĐ-ST ngày 24/6/2019 có hiệu lực pháp luật đã xác định là do hai vợ ch ng bất đ ng quan điểm sống, cuộc sống chung không hợp nhau. Do đó không có cơ s xác định ông L hay bà H có l i trong việc dẫn đến ly hôn. Như vậy, yêu cầu chia số tài sản chung của ông L là có căn c , đúng pháp luật nên được Hội đ ng xét xử chấp nhận chia đôi giá trị phần đất diện t ch là 8.800 m2 (đo đạc thực tế diện t ch là 10.507,5 m2) là phù hợp. Ông L đ ng ý giao cho bà H toàn bộ phần đất diện t ch 8.800 m2 (đo đạc thực tế diện t ch là 10.507,5 m2), để thuận tiện trong việc canh tác, quản lý sử dụng đất nên bà H có nghĩa vụ trả lại cho ông L ½ giá trị phần đất số tiền là 1.752.000.000 đ ng. Đối với căn nhà, ngôi mộ con chung của ông L, bà H trên phần đất tranh chấp, các cây tr ng và các vật dụng sinh hoạt trong gia đ nh, ông L và bà H không yêu cầu chia mà ông L đ ng ý để lại cho bà H tiếp tục quản lý sử dụng và phần này cũng thuộc phần đất mà bà H được chia nên giao cho bà H tiếp tục quản lý, sử dụng là phù hợp. Bà Đào Kim H có quyền yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký chuyển tên quyền sử dụng đất trên sang cho bà theo quy định pháp luật.

Về nợ chung: Trong quá tr nh giải quyết vụ án, ông L, bà H, anh T và chị T thống nhất năm 2016 ông L và bà H có cố phần đất diện t ch 8.800 m2 cho anh T và chị T với giá là 80 chỉ vàng 24k. Hiện ông L và bà H thống nhất số nợ còn thiếu anh T và chị T là số vàng cố đất là 80 chỉ vàng 24k và số vàng thuê đất là 24 chỉ vàng 24k, t ng cộng là 104 chỉ vàng 24k. Ông L chỉ đ ng ý trả cho vợ ch ng anh T số vàng cố đất 17 chỉ vàng 24k và số vàng thuê đất 07 chỉ vàng 24k; t ng cộng 02 lượng 05 chỉ vàng 24k; Phần nợ còn lại giao lại bà H trả hết cho vợ ch ng anh T. Phía bà H đ ng ý trả toàn bộ số vàng là 104 chỉ vàng 24k cho anh T và chị T nếu như Tòa án giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà mà không phân chia cho ông L. Tuy nhiên, xét đây là khoản nợ chung do cố đất của ông L và bà H nên cần buộc ông L và bà H có nghĩa vụ chia đôi số nợ cho anh T và chị T số vàng t ng cộng là 80 chỉ vàng 24k là phù hợp. Đối việc cố đất giữa các bên là không đúng quy định pháp luật, tuy nhiên hiện nay anh T và chị T không quản lý đất. Đ ng th i việc thuê đất giữa các bên không lập thành văn bản nhưng được các đương sự th a nhận buộc ông L và bà H trả tiền thuê đất cho anh T và chị T là phù hợp. Đối với số vàng thuê đất do các đương sự đều thống nhất xác định 08 chỉ vàng 24K/năm và ông L, bà H đ ng ý trả, đây là sự tự nguyện của đương sự nên được Hội đ ng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, do ông L, bà H đã ly thân năm 2019, t th i gian này này đến ngày xét xử sơ thẩm phần đất trên do bà H trực tiếp quản lý, canh tác và hư ng H lợi, lợi t c trên đất nên buộc ông L trả tiền thuê đất tương ng 08 chỉ vàng, buộc bà H trả tiền thuê đất tương ng 16 chỉ vàng là phù hợp. Đối với giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, anh T và chị T đang giữ nên buộc anh T và chị T có nghĩa vụ trả lại cho bà H là có căn c .

Về chi phí đo đạc và định giá phần đất tranh chấp: Buộc ông L và bà H m i ngư i chịu ½ chia đôi chi ph đo đạc và định giá tài sản, ông L đã dự nộp tạm ng xong chi ph đo đạc là 17.657.000 đ ng và chi ph định giá là 9.900.000 đ ng, t ng cộng 27.557.000 đ ng nên buộc bà H có nghĩa vụ trả lại cho ông L ½ chi ph đo đạc và định giá tài sản là 13.778.500 đ ng.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông L và bà H thuộc trư ng hợp ngư i cao tu i nên được miễn án ph theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Tòa án. Anh T , chị T không phải chịu án ph dân sự sơ thẩm có giá ngạch, đã dự nộp được nhận lại.

Ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước và Vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp cho nguyên đơn tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c :

Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các điều 27, 33, 37,45, 60, 62 Luật Hôn nhân và gia đ nh;

Các điều 357; 407, 468, 501, 502 Bộ luật dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Phan Văn L về việc yêu cầu chia tài sản chung với bà Đào Kim H.

Buộc bà Đào Kim H phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Phan Văn L 50% giá trị của phần đất là tài sản chung của ông Phan Văn L và bà Đào Kim H t ng diện t ch là 8.800m2 (theo đo đạc thực tế diện t ch là 10.507,5 m2) với số tiền là 1.752.000.000 đ ng( Một tỷ bảy trăm năm mươi hai triệu đ ng). Chi ph đo đạc đo đạc, thẩm định, định giá: Buộc ông Phan Văn L, bà Đào Kim H m i ngư i phải chịu là 13.778.500 đ ng, ông Phan Văn L đã nộp toàn bộ nên cần buộc bà Đào Kim H trả lại cho ông Phan Văn L số tiền 13.778.500 đ ng. Như vậy t ng cộng bà Đào Kim H phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Phan Văn L t ng số tiền là 1.765.778.500 đ ng( Một tỷ bảy trăm sáu mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi tám ngh n năm trăm đ ng).

Kể t ngày ngư i được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, ngư i phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì ngư i phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

Bà Đào Kim H được quyền tiếp tục quản lý sử dụng toàn bộ phần đất t ng diện t ch là 8.800m2 (theo đo đạc thực tế diện t ch là 10.507,5 m2) cùng tòan bộ nhà cửa, cây cối, công tr nh kiến trúc trên đất. Phần đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Cái Nước cấp cho ông Phan Văn L theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số vào s 32313, cấp ngày 20/11/1996, t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, có t cận như sau:

Hướng bắc giáp lộ xe Cống đá Kinh Tư và ông Phan Văn Trượng cạnh M1M2=29,44m, cạnh M3M4 =57,16m, cạnh M4M5=28,03m, M5M6=119,22 m.

Hướng đông giáp đất bà Nguyễn Thị Đảnh cạnh M6M7= 47,55m.

Hướng nam giáp phần đất anh Trần Văn Chắc cạnh M9M8= 84,07m, cạnh M8M7 =145,05m.

Hướng tây giáp Kinh Giải Phóng cạnh M1M11=11,84m, cạnh M10M11= 13,08m, cạnh M9M10= 9,61m.

Có sơ đ đo đạc kèm theo.

4. Về nợ chung:

Tuyên bố hợp đ ng cầm cố đất giữa ông Phan Văn L, bà Đào Kim H và anh Đ Văn T , chị Hu nh Thị T là vô hiệu.

Buộc ông Phan Văn L phải có nghĩa vụ trả cho anh Đ Văn T và chị Hu nh Thị T số vàng là 48 (Bốn mươi tám) chỉ vàng 24k.

Buộc bà Đào Kim H phải có nghĩa vụ trả cho anh Đ Văn T và chị Hu nh Thị T số vàng là 56 (Năm mươi sáu) chỉ vàng 24k.

Buộc anh Đ Văn T và chị Hu nh Thị T có nghĩa vụ trả lại cho bà Đào Kim H một bản ch nh giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, diện t ch 8.800 m2, t bản đ số 01, thửa 54, 55, được Ủy ban nhân dân huyện Cái Nước cấp cho ông Phan Văn L theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số vào s 32313, cấp ngày 20/11/1996, t a lạc tại ấp G, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Ông Phan Văn L và bà Đào Kim H thuộc trư ng hợp ngư i cao tu i nên được miễn án ph theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Anh Đ Văn T và chị Hu nh Thị T không phải chịu án ph , được nhận lại số tiền tạm ng án ph là 12.587.000 đ ng theo biên lai thu tạm ng án phí Tòa án số 0006284, ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại điều Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành ánh dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai nguyên đơn ông Phan Văn L, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đ Văn T và chị Hu nh Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Bị đơn bà Đào Kim H, Ủy ban nhân dân huyện Cái Nước, Ông Phan Văn G vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ