- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:116/2022/HSST Ngày: 02/8/2022 |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thu Phương
2. Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thùy Chi – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2022/TLST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2022/QĐXXST-HS ngày 21/7/2022 đối với bị cáo:
Phan Văn S; Sinh năm 1991 tại Bình Thuận; ĐKNKTT và nơi cư trú hiện nay: khu phố 9, phường Bình Hưng, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: sơn nước; Con ông Phan Văn Minh và bà Nhơn Xuân Lạng; Có vợ tên Nguyễn Nhật Thảo Trinh và có 01 con chung sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Nguyễn Nhật Thảo Trinh – sinh năm 1997 (có mặt)
Trú tại: khu phố 9, phường Bình Hưng, Phan Thiết, Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 19/02/2022, Phan Văn S điều khiển xe mô tô biển số 86K3 – 8617 đến khu vực công viên Đức Long thuộc phường Đức Long gặp đối tượng tên Q (không rõ nhân thân), hỏi mua 900.000 đồng tiền ma túy thì Q đồng ý bán rồi Q đi đâu không rõ. Khoảng 15 phút sau, Q quay lại công viên Đức Long, đưa cho S 01 gói ma túy đá, S đưa cho Q 900.000 đồng, rồi S bỏ gói ma túy vừa mua vào trong túi quần phía trước, bên phải mà S đang mặc rồi S điều khiển xe mô tô 86K3 – 8617 về lại nhà ở tại khu phố 9, phường Bình Hưng, Phan Thiết thì Nguyễn Nhật Thảo T nhờ S chở đi công việc, S đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 86K3 – 8617 chở T đi.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/02/2022, khi S chở T đang lưu thông trong hẻm số 91 đường Tôn Đức Thắng thuộc khu phố 1, phường Hưng Long, Tp. Phan Thiết thì bị Tổ công tác thuộc Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Thuận phối hợp Công an phường Hưng Long, Tp. Phan Thiết kiểm tra hành chính, phát hiện trong túi quần phía trước, bên phải mà S đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá màu trắng, trên vỏ có chữ“ZOUK”, bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy nên Tổ công tác thu giữ những tang vật có liên quan và đưa S về trụ sở làm việc.
Vật chứng của vụ án: 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, cất giấu trong 01 vỏ bao thuốc lá có chữ “ZOUK” được niêm phong và ký hiệu M để giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 197/KLGĐ-PC09 ngày 28/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
“- Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,9110 gam, là Methamphetamine.
Hoàn lại đối tượng giám định: Gói nylon như đã nêu tại mục II.1 cùng 1,8793 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 197, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận”.
Xử lý vật chứng:
+ Gói nylon đã cắt lấy mẫu và 1,8793 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 197, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 vỏ bao thuốc lá có chữ “ZOUK”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.
+ Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu BOSS, biển số 86K3-8617, số máy: SD070884, số khung: VMEPCG00221070865 đã thu giữ khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, là tài sản của Nguyễn Nhật Thảo T, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho T.
Tại bản cáo trạng số 53/QĐ/KSĐT/VKS-HS ngày 15/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Phan Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ vai trò công tố phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Phan Văn S từ 24 đến 27 tháng tù và đề nghị áp dụng các quy định tại khỏan 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng trong vụ án.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/02/2022, tại hẻm số 91 đường Tôn Đức Thắng thuộc khu phố 1, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết, Phan Văn S đã có hành vi cất giữ trái phép 1,9110 gam Methamphetamine trong người, nhằm để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là một người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức đầy đủ về hành vi của mình đối với xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo nhận thức được Methamphetamine là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ… trái phép. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn xem thường pháp luật, nên đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bất chấp hậu quả.
Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý bằng một mức hình phạt thật nghiêm, không chỉ nhằm trừng trị, mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ và với mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.
Xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là mẫu vật còn lại sau giám định và gói thuốc lá hiệu Zouk là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác: Đối với các đối tượng có tên là Quốc là người đã bán ma túy cho S, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Nhật Thảo T, quá trình điều tra xác định T không biết việc S có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như không liên quan gì đến hành vi nêu trên của S nên không xử lý hình sự đối với T là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Phan Văn S 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
* Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bỏ bao thuốc lá hiệu Zouk và số mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 197 ngày 28/02/2022 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Thuận là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 108 ngày 19/7/2022).
- Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phan Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Tp Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Công an Tp Phan Thiết; - Người tham gia tố tụng; - UBND địa phương nơi b/c thường trú; - Thi hành án thành phố Phan Thiết; - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN ---------- BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân Các hội thẩm nhân dân : 1/Ông Nguyễn Bính , 2/ Bà Lưu Thị Thôi , Căn cứ vào các điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng Hình sự ; xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án với vụ án : phường Tào Xuyên, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa , bị truy tố về tội “ Cố ý gây thương tích ” theo quy định tại các điểm a, khoản 01,khoản 03 Điều 104 Bộ luật hình sự. sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo , người bào chữa và những người tham gia tố tụng kháctại phiên tòa ,Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề giải quyết trong vụ án như sau : tội “Cố ý gây thương tích ” ” theo quy định tại các điểm a khoản 01,khoản 03 Điều 104 Bộ luật hình sự ; Kết quả biểu quyết : 3/3 ; 2/ Về điều luật áp dụng : luật hình sự.Kết quả biểu quyết : 3/3 3/ Về mức hình phạt : giam thi hành án . Kết quả biểu quyết : 3/3. 4/ Về các vấn đề khác : luật Hình sự , điều 609 Bộ luật Dân sự : Hoàng 22 triệu đồng tiền chi phí điều trị . Hoàng 10 triệu dồng tiền bù đắp tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại . tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. và500.000đ án phí sơ thẩm dân sự . quan về những phần có liên quan là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo bản án của người bị hại là 15 ngày tròn kể từ ngày được niêm yết hoặc tống đạt bản án . Kết quả biểu quyết : 3/3 HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA Nguyễn Bính Lưu Thị Thôi | TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------------- Phan Thiết , ngày 29 tháng 7 năm 2015 ; Vào hồi 10 giờ 00’ ngày 29 tháng 7 năm 2015 tại phòng nghị án , Hội đồng Nguyễn Ngọc Yến – Sinh năm : 1957 – Trú tại, Khu phố Yên Vực 1, Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa , trên cơ 1/ Về tội danh : Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Yến đủ yếu tố cấu thành ,khoản 3 Điều 104 , điểm p , b khoản 01 , khoản 02 D(iều 46 , điều 47 Bộ *Xử phạt : Nguyễn Ngọc Yến 30 tháng tù , thời hạn tù tính từ ngày bắt *Về trách nhiệm bồi thường Dân sự : Áp dụng khoản 01 điều 42 Bộ Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Ngọc Yến đã bồi thường cho Ông Lê Ngọc Tuyên buộc Nguyễn Ngọc Yến phải tiếp tục bồi thường cho Lê Ngọc Từ khi bản án có hiệu lực, người được thi hành án có đơn yêu cầu, hàng * Về án phí : Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm Quyền kháng cáo bản án của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Thị Như Xuân |