- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn S tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn S phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:116/2022/HS-ST Ngày: 24-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đồng Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Ngọc và bà Nguyễn Thị
Sương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thương – Thư ký Toà án nhân
dân thành phố K, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Đỗ Văn S, sinh ngày 20/8/1994 tại Kon Tum. Nơi cư trú: 73/30 Hai Bà Trưng, Tổ 4, phường Q, thành phố K; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn M (sinh năm 1955) và bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1962); có vợ là Đào Hồng V (sinh năm 1993); con là Đỗ Gia Hưng (sinh năm 2019); trú tại: 73/30 Hai Bà Trưng, Tổ 4, phường Q, thành phố K; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Kon Tum đến nay (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14h00′ ngày 04/8/2022, Đỗ Văn S đang ngồi uống nước tại quán nước (không rõ tên quán) trên đường Phan Chu Trinh thuộc tổ 4, phường Q, thành phố K thì gặp một nam thanh niên tên Tí (không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đi ngang qua. Biết Tí bán ma túy do trước đây S đi nhậu cùng bạn bè ngoài xã hội và gặp Tí nhậu cùng, Tí giới thiệu có bán ma túy nên S gọi Tí quay lại hỏi mua ma túy của Tí với giá 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) thì Tí đồng ý bán. Tí cầm tiền và lấy từ trong túi quần ra 01 (Một) gói ma túy đưa lại cho S rồi bỏ đi. S cầm gói ma túy cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải của S và đi bộ về nhà. Khi đến gần số nhà 73/30 Hai Bà Trưng, phường Q, thành phố K thì bị Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Kon Tum kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác bên phải của S đang mặc có 01 (Một) gói tinh thể màu trắng đựng trong bì nilong dán kín. Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 150/KL-KTHS ngày 07/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum kết luận:
Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,184 gam(Không phẩy một trăm tám mươi bốn gam), là loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 100/CT- VKSTPKT ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo Đỗ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn S. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn S từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/8/2022).
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy:0,173 gam (không phẩy một bảy ba) Methamphetamine (Số ma túy còn lại sau giám định).
Về án phí: Bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận; nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình, cộng đồng xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 14h00' ngày 04/8/2022, Đỗ Văn S có hành vi cất giấu bất hợp pháp 01 (Một) gói ma túy nhằm mục đích sử dụng tại tổ 4, phường Q, thành phố K. Tại bản kết luận giám định số 150/KL-KTHS ngày 07/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,184 gam(Không phẩy một trăm tám mươi bốn gam), là loại Methamphetamine.
Như vậy, bị cáo Đỗ Văn S đã có hành vi tìm mua ma túy về tàng trữ, mục đích để sử dụng. Căn cứ vào khối lượng Methamphetamine thu được thì hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", do đó cáo trạng số 100/CT-VKSTPKT ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo Đỗ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là một chất gây nghiện làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và tính mạng của con người và là nguyên nhân dẫn đến hậu quả của những tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an của xã hội. Chính vì tác hại nguy hiểm này mà pháp luật nghiêm cấm mọi cá nhân không được phép tàng trữ ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, đồng thời pháp luật quy định hình phạt nghiêm khắc để trừng trị đối với loại tội phạm này. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả do hành vi của mình gây ra bị cáo đã ngang nhiên tàng trữ khối lượng 0,184 gam ma túy là loại: Methamphetamine” để sử dụng. Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn tiếp tay cho kẻ khác vi phạm pháp luật, và trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, hậu quả bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung trong tình hình tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng như hiện nay.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản, công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Ngoài ra, trong vụ án này có đối tượng nam thanh niên tên Tí (không rõ nhân thân lai lịch) là người bán ma túy cho Đỗ Văn S. Cơ quan CSĐT Công an thành phố K đã tiến hành kiểm tra, xác minh các đối tượng nhưng chưa đủ cơ sở để xác định nhân thân, lai lịch của Tí. Do đó Cơ quan CSĐT Công an TP. Kon Tum tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.
[7]. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,173 gam (Không phẩy một bảy ba gam) Methamphetamine (Số ma túy còn lại sau giám định).
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn S phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn S 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/8/2022.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định 0,173 gam (không phẩy một bảy ba gam) Methamphetamine được niêm phong trong phong bì số 150/KL-KTHS của phòng kỹ thuật Hình Sự - Công an tỉnh Kon Tum.
(Chi tiết vật chứng vụ án được thể hiện theo Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum ngày 26/10/2022).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 21; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Văn S phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/11/2022) bị cáo có quyền kháng cáo bản án này để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh KonTum; - VKSND thành phố K; - CA thành phố K (đội điều tra); - Nhà tạm giữ CATP Kon Tum; -Chi cụcTHADS thành phố K;. - Bị cáo; - UBND nơi đăng ký HKTT của bị cáo - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Đồng Thị Bình |