- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 116 /2022/HS-ST Ngày: 15 /11/2022 |
N/HÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Ông Ngô Rạng Đông
2/Bà Nguyễn Thị Thu Ba
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Lưu Văn T, sinh năm: 1968, tại: Cần Thơ; Nơi ĐKTT: Khu phố 5, phường D Đ, thành phố P Q, tỉnh K G; Chỗ ở hiện nay:Khu phố 5, phường D Đ, thành phố P Q, tỉnh K G; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn D (tên gọi khác Lưu Văn T) và bà Nguyễn Thị Ơ; Vợ: Nguyễn Thị H; con; 02 người: lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1990
Tiền án: Ngày 31/5/2017, bị Tòa án thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù, về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 249 BLHS năm 1999. Đến ngày 10/10/2018 chấp hành xong hình phạt.
Ngày 25/2/2020, bị Tòa án thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đến ngày 21/01/2021, chấp hành xong hình phạt. Chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2022 cho đến nay.
(Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 29/8/2022, Lưu Văn T đang đứng trước phòng số 13 nhà trọ Xuân Phong thuộc khu phố 5, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc nơi T thuê ở thì gặp 01 người thanh niên (chưa rõ nhân thân), bán cho T 01 bịch ma túy, với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đem vào phòng trọ lấy ra 01 ít sử dụng, số còn lại T phân ra thành 03 bịch nhỏ bỏ vào túi áo treo lên cây xào đồ trong phòng trọ để bán lại cho người khác kiếm lời. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Lê Ngọc Q đến trước phòng số 13 nhà trọ Xuân Phong gặp T hỏi mua ma túy để sử dụng, T bán cho Quyền 01 bịch ma túy, với giá 200.000 đồng thì bị Công an thành phố Phú Quốc bắt quả tang. Sau đó T tự nguyện vào phòng trọ lấy 02 bịch ma túy còn lại ra giao nộp cho Công an. Ngày 05/9/2022, Lưu Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phú Quốc khởi tố, tạm giam để điều tra.
* Tang vật thu giữ:
- 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước 01 cm x 2,8 cm; 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước 01 cm x 2,7 cm; 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước 2,3 cm x 2,5 cm. Bên trong mỗi bịch có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong.
-01 điện thoại di động, hiệu Samsung, màu đen, Số Imei: 353151331328454, đã qua sử dụng.
- Nộp kho bạc Nhà nước: Tiền Việt Nam: 200.000 đồng.
* Tại bản kết luận giám định số: 842/KL-KTHS ngày 05/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
- Gói 1: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0563 gam.
- Gói 2: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3108 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 842/KL-KTHS ngày 05/9/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Bản cáo trạng số 121/CT-VKSPQ ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Sau phần công khai tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lưu Văn T từ 07 năm đến 08 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: Gói 1: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0311 gam ma túy loại Methamphetamine, được đựng trong một bịch nylon và bao gói mẫu vật được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số: 842/2022/Gói 01;
- Gói 2: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2941 gamma túy loại Methamphetamine, được đựng trong một bịch nylon và bao gói mẫu vật được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số: 842/2022/Gói 02;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam 200.000đồng
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động, hiệu Samsung, màu đen, Số Imei: 353151331328454, đã qua sử dụng.
Đối với người tên Lê Ngọc Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Phú Quốc đã lập hồ sơ để xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có mặt tại phiên Tòa nên không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá chứng cứ: Vào khoảng 21 giờ ngày 29/8/2022, trước phòng số 13, nhà trọ Xuân Phong thuộc khu phố 5, thành phố Phú Quốc, Công an thành phố Phú Quốc bắt quả tang Lưu Văn T bán ma túy, cho Lê Ngọc Q thu lợi được 200.000đ.
Tại bản Kết luận giám định số 842/KL-KTHS ngày 05/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Gói 01 khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0563 gam (Mẫu vật còn lại có khối lượng 0,0311 gam). Gói 02 khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3108 gam ( Mẫu vật còn lại có khối lượng 0,2941 gam)
Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở để xác định cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo không lo chí thú làm ăn tạo lập sự nghiệp mà lo ăn chơi sử dụng ma túy là chất cấm được Nhà nước độc quyền quản lý sử dụng. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng cần ma túy sử dụng và để có tiền để tiêu xài mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 31/5/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy đến ngày 10/10/2018 chấp hành xong hình phạt, đến ngày 25/02/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 21/01/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích thì lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải cũng như tại đơn xin xét xử vắng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định gói 01: 0,0311 gam ma túy loại Methamphetamine; gói 02 0,2941 gam ma túy loại Methamphetamine
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước, tiền Việt Nam 200.000đ
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động, hiệu Samsung, màu đen, Số Imei: 353151331328454, đã qua sử dụng.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở nên HĐXX xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T 07 (Bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/8/2022
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy; Gói 1: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0311 gam ma túy loại Methamphetamine, được đựng trong một bịch nylon và bao gói mẫu vật được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số: 842/2022/Gói 01;
- Gói 2: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2941 gamma túy loại Methamphetamine, được đựng trong một bịch nylon và bao gói mẫu vật được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số: 842/2022/Gói 02;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam 200.000đồng;
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động, hiệu Samsung, màu đen, Số Imei: 353151331328454, đã qua sử dụng.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số 93/QĐ-VKSPQ-HS ngày 18/10/2022)
3. Về án phí căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; -VKSND thành phố Phú Quốc; - Nhà tạm giữ thành phố Phú Quốc; - Đội tổng hợp CA thành phố PQ; - THA thành phố Phú Quốc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Thị Hồng Tâm |