- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tống Bá H và bị cáo Nguyễn Thanh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2022/HS-ST Ngày: 27/10/2022 |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng L
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến L
Bà Nguyễn Thị L
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị L – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Tống Bá H, sinh năm 1960
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Đội 4, thôn Đ, xã T, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Bá Bình, con bà Tống Thị Cốc (đã chết); vợ: Nguyễn Thị T (đã chết) và 04 con (lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 2000).
Danh chỉ bản số 431 lập ngày 14/7/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án Hình sự sơ thẩm số 84/2009/HSST ngày 25/8/2009, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 01/2010/HSST ngày 12/01/2010, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 9 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với hình phạt 9 năm tù của Bản án số 84/2009/HSST ngày 25/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 9 năm 9 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/11/2017 (đã được xoá án tích).
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2022.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thanh A, sinh năm 1985
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn S, xã T, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Ngà và bà Nguyễn Thị Kim; vợ: Vương Thị Hường và 03 con (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2013).
Danh chỉ bản số 430 lập ngày 14/7/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/7/2022 đến ngày 15/7/2022.
Bị cáo hiện đang tại ngoại tại thôn S, xã T, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Đào Kiều O, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Số nhà 07, khu H, thị trấn C, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990
Cư trú tại: thôn S, xã T, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.
2. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 2000
Cư trú tại: thôn S, xã T, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 06/7/2022, Tống Bá H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Nguyễn Thanh A gọi nhờ H đi mua hộ ma túy Heroine. H đồng ý và đi xe máy xuống đường Tỉnh lộ 419 thuộc Đội 4, thôn Đ, xã T, huyện Chương Mỹ gặp A. A đưa cho H 01 chiếc điện thoại di động, bảo H đi cầm cố lấy tiền mua ma túy. H mang điện thoại đi xuống cửa hàng mua bán điện thoại Minh Đức tại khu H, thị trấn C, huyện Chương Mỹ do chị Đào Kiều O là đại diện cầm cố được 500.000 đồng. Sau đó H đi một mình đến khu vực xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ hỏi và mua được của một người nam giới không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H mang về nhà và tách một ít ra và cùng Nguyễn Văn Đ sử dụng và chia một ít ma túy cho Đ mang về. Sau đó, H chở A ra khu vực nghĩa trang thôn Đ, xã T để sử dụng ma túy. Tại đây, H chia cho A một ít ma túy Heroine để trong gói giấy bạc, số ma túy còn lại H để bên trong lớp nilong bọc ngoài vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Khi H và A đang chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an xã T, huyện Chương Mỹ kiểm tra hành chính phát hiện, thu giữ niêm phong tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Tang vật thu giữ gồm:
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long vỏ mềm đã sử dụng, bên trong lớp nilong ở vỏ bao thuốc có chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin (mẫu số 01).
- 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, kích thước (01x01) cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin (mẫu số 02).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, biển kiểm soát 33P2-5221 đã cũ.
- 01 (một) điện thoại di động OPPO F5, màu vàng, vỏ ốp màu đen đã qua sử dụng
Kết luận giám định số 4924/KL-KTHS ngày 14/7/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận:
“- Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong của vỏ bao thuốc lá Thăng Long (ký hiệu mẫu số 01) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,148 gam
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng (ký hiệu mẫu số 02) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,138 gam”.
Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 04/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Tống Bá H và Nguyễn Thanh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo Tống Bá H và Nguyễn Thanh A đã khai nhận hành vi đã thực hiện như Bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận gói ma túy mà cơ quan công an đã thu giữ là của các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tống Bá H và Nguyễn Thanh A phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Tống Bá H từ 15 đến 18 tháng tù ; xử phạt: Nguyễn Thanh A từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với cả hai bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động đã thu giữ; Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam; thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; lấy lời khai người làm chứng, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với các bị can. Do đó, các hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Đào Kiều O và người làm chứng là anh Nguyễn Văn Đ và nh Nguyễn Văn V: chị Đào Kiều O đã có lời khai và không yêu cầu phải hoàn trả số tiền 500.000 đồng và những người làm chứng đều đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của chị Đào Kiều O, anh Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Văn V không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
. Về nội dung:
. Tại phiên tòa, các bị cáo Tống Bá H và Nguyễn Thanh A đã khai nhận hành vi đã thực hiện như Bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 11 giờ 05 phút ngày 06/7/2022, tại Nghĩa trang Đồng Đống, thôn Đ, xã T, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, Tống Bá H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,148 gam ma tuý loại Heroine; Nguyễn Thanh A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,138 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã T, huyện Chương Mỹ phát hiện và bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,148 gam ma túy loại Heroine để sử dụng mà Tống Bá H và hành vi tàng trữ trái phép 0,138 gam ma túy loại Heroine để sử dụng mà Nguyễn Thanh A thực hiện đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Tống Bá H và Nguyễn Thanh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.
Bị cáo Tống Bá H có nhân thân xấu, năm 2009, bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; năm 2010, bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 9 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Điều đó chứng tỏ bị cáo đã có thời gian được giáo dục cải tạo và nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người tốt, nay lại tiếp tục phạm tội về ma túy. Do vậy, cần phải có hình phạt tù tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và có thời gian cách ly bị cáo với xã hội đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy và phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Thanh A là người đưa điện thoại cho bị cáo H đi cầm cố lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Mặc dù nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng cũng cần có thời gian ly bị cáo với xã hội đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo, tạo điều kiện để các bị cáo yên A cải tạo.
. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa cả hai bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về nguồn gốc ma túy: Đối với nguồn gốc số ma tuý, Tống Bá H khai nhận đã mua của một người nam giới không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn Đ, tại Cơ quan điều tra khai nhận Đ đã đưa cho Nguyễn Thanh A 200.000 đồng để mua ma túy nhưng sau đó Đ và A đã sử dụng số tiền trên đi ăn sáng hết. Đ không biết việc Tống Bá H lấy ma túy ở đâu. Khi Đ đi cùng A đến nhà H và được H đưa cho một ít ma túy, Đ mang về nhà sử dụng hết. Cơ quan điều tra đã thi hành Lệnh khám xét chỗ ở của Đ nhưng không phát hiện, thu giữ được gì. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Đ là có căn cứ.
Đối với chủ cửa hàng điện thoại Minh Đức do chị Đào Kiều O là đại diện: Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc và tạm giữ đối với chiếc điện thoại mà H cầm cố. Quá trình làm việc chị Đào Kiều O không có đề nghị liên quan đến chiếc điện thoại mà H cầm cố. Số tiền 500.000 đồng, chị Oanh đưa cho H để cầm chiếc điện thoại trên chị Đào Kiều O không đề nghị H phải trả lại nên không xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển kiểm soát 33P2-5221 đã qua sử dụng là của chị Tống Thị Linh. Ngày 6/7/2022, chị Linh cho H mượn để sử dụng, Linh không biết H mượn đi đâu, làm gì, chị Linh đề nghị trả lại cho chị chiếc xe trên nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Tống Thị Linh quản lý sử dụng là có căn cứ.
. Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là tang vật của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ là phương tiện các đối tượng liên lạc để mua ma túy và là phương tiện các đối tượng cầm cố lấy tiền mua ma túy và là tang vật của vụ án nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo Tống Bá H và Nguyễn Thanh A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tống Bá H và bị cáo Nguyễn Thanh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Tống Bá H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2022.
Xử phạt: Nguyễn Thanh A 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/7/2022 đến ngày 15/7/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và chữ ký của Tống Bá H; 01 (một) phong bì dán kín của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và chữ ký của Nguyễn Thanh A.
+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng, chất lượng máy bên trong; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng, chất lượng máy bên trong.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 04/10/2022 giữa Công an huyện Chương Mỹ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Tống Bá H và Nguyễn Thanh A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
+ Các bị cáo Tống Bá H và Nguyễn Thanh A có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Chị Đào Kiều O vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Công an huyện Chương Mỹ; - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Bị cáo; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu: Hồ sơ, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoàng L THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |