vanban.org

Bản án 116/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hồ Minh Đ.

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Hồ Minh Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hồ Minh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2022/HS-PT
Ngày: 22 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hữu Thắng.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thọ

Ông Phạm Hoàng Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Trúc - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 108/2022/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Hồ Minh Được, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2022/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Bị cáo có kháng cáo: Hồ Minh Đ, sinh năm 1988, tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Thanh H và bà Nguyễn Huế H; có vợ là Nguyễn Thị Như H và 02 người con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 7 năm 2022 cho đến nay. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị; không có liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Minh Đ là tài xế lái xe thuê tại cơ sở kinh doanh của chị Nguyễn Ngọc T (ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Hậu Giang). Vào sáng ngày 11 tháng 7 năm 2022, chị T yêu cầu Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 95C- 062.41 chạy chở xi măng đi giao cho khách hàng, đi trên tuyến đường Quốc Lộ 61C, hướng từ Cần Thơ đi Vị Thanh. Khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã N, huyện C, Đ điều khiển xe chạy chuyển sang làn đường bên trái để vượt lên xe đang lưu thông chạy cùng chiều phía trước thì gây ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 95H1- 210.32 do Lê Đoàn Thảo Q điều khiển chở Hồ Thị Diễm Tr phía sau, đang lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả: Hồ Thị Diễm Tr và Lê Đoàn Thảo Q tử vong sau khi được đưa đi cấp cứu; xe mô tô biển số 95H1-210.32 bị hư hỏng nặng phần đầu xe.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là do Đ điều khiển ôtô không làm chủ tốc độ, vượt xe phía trước cùng chiều chạy lấn sang làn đường bên trái gây ra tai nạn giao thông với xe mô tô 95H1-210.32 làm Hồ Thị Diễm Tr và Lê Đoàn Thảo Q tử vong.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 82/TgT ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Hậu Giang, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định kết luận đối với Hồ Thị Diễm Tr: Đa chấn thương, vết thương phần mềm; gãy kín 1/3 dưới xương đùi trái; tụ huyết dưới da vùng trán; tụ huyết dưới màng cứng bán cầu đại não trái. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 84/TgT ngày 19 tháng 7 năm 2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Hậu Giang, kết luận đối với Lê Đoàn Thảo Q: Dấu hiệu chính qua giám định: Đa chấn thương, vết thương phần mềm; tụ huyết vai phải và vùng bụng; đa vết mổ cấp cứu ở vùng bụng; gãy xương đùi trái; ổ bụng chứa máu loãng; tụ huyết mạc treo; dập, vỡ lách; đã cắt tụy. Nguyên nhân tử vong: Dập, vỡ đa tạng.

Căn cứ biên bản định giá tài sản số: 29/BB-ĐGTS ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành A kết luận: Giá trị thiệt hại đối với xe mô tô biển số 95H1 - 210.32 là 21.039.854 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2022/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 14 Luật giao thông đường bộ.

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Xử phạt: Bị cáo Hồ Minh Đ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày (16/7/2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

2. Hình phạt bổ sung: Không cấm bị cáo hành nghề lái xe, sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 590, Điều 591 Bộ luật dân sự.

3.1 Đối với gia đinh bị hại Lê Đoàn Thảo Q: Đã giải quyết xong.

3.2 Đối với bị hại Hồ Thị Diễm Tr: Ghi nhận sự tự nguyện bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình ông Hồ Hữu T và bà Nguyễn Thị Thùy Tr tổng số tiền 317.300.000đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

Đối với bà Nguyễn Ngọc T, bà Phan Thị O và ông Hồ Thanh H không yêu cầu bị cáo Hồ Minh Đ trả lại số tiền họ đã bồi thường cho các bị hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bà Nguyễn Ngọc T 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát số 95C-062.41, 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô 95C-062.41, 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô và 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô 95C-062.41;

Trả lại bị cáo Hồ Minh Đ 01 (một) giấy căn cước công dân số 093088007463 mang tên Hồ Minh Đ và 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Hồ Minh Đ.

Giao gia đình bị cáo 01 xe mô tô Hon da Vison biển kiểm soát 95H1-210.32 do bà Nguyễn Thị Thùy Tr đứng tên chủ sở hữu.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Hồ Minh Đ phải nộp 200.000đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.865.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo quy định của pháp luật.

Ngày 03 tháng 10 năm 2022, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm, đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo đúng thời hạn, đúng quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Từ đó, đã có căn cứ kết luận:

Vào sáng ngày 11 tháng 7 năm 2022, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 95C- 062.41 lưu thông trên Quốc Lộ 61C, hướng từ Cần Thơ đi Vị Thanh. Khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã N, huyện C, bị cáo điều khiển xe chạy chuyển sang làn đường bên trái để vượt lên xe đang lưu thông chạy phía trước cùng chiều thì gây ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 95H1- 210.32, do Lê Đoàn Thảo Q điều khiển chở Hồ Thị Diễm Tr phía sau, đang lưu thông theo hướng ngược lại, gây hậu quả làm cho các bị hại Hồ Thị Diễm Tr và Lê Đoàn Thảo Q tử vong sau khi được đưa đi cấp cứu; xe mô tô biển số 95H1-210.32 bị hư hỏng nặng với giá trị thiệt hại là 21.039.854 đồng.

Hành vi của bị cáo tránh vượt xe không đảm bảo an toàn, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ, dẫn đến va chạm với xe mô tô do các bị hại điều khiển đang lưu thông phần đường bên trái theo hướng ngược chiều, gây hậu quả làm chết 02 người. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung là “Làm chết 02 người” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tuy hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, gây hậu quả làm chết 02 người. Nhưng bị cáo phạm tội chỉ với một tình tiết định khung, có nhân thân tốt, không có tính tiết tăng nặng, được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt 05 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Mặt khác, xét sau khi gây tai nạn bị cáo đã tích cực cứu giúp, đưa các bị hại đi cấp cứu; gia đình của bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Do đó, cần xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với án phí dân sự sơ thẩm, cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường số tiền 317.300.000 đồng, nhưng chỉ buộc bị cáo chịu 1.865.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là có phần thiếu sót, tính toán sai số tiền án phí bị cáo phải chịu. Tuy phần án phí bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị theo hướng bất lợi, nhưng xét đây là nghĩa vụ bị cáo phải thực hiện đối với Nhà nước. Do đó cũng cần xem xét sửa bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu 5% giá ngạch giá trị tài sản phải bồi thường.

Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hồ Minh Đ. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 53/2022/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

2. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

3. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260, Điều 38, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Hồ Minh Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2022.

4. Về án phí: Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, các điểm c, h khoản 2 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hồ Minh Đ phải chịu 15.865.000 (mười lăm triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ