- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nghiệp - Nhung"
- Tòa quyết gì? 1/. Về hôn nhân: Không công nhận anh Nguyễn Hữu Ng và chị Phạm Thị N là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31/10/2022 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giang Thị Cẩm Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 396/2022/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2022/QĐXX - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu Ng sinh năm 1968
Địa chỉ: khóm 5, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B.
Bị đơn: Chị Phạm Thị N sinh năm 1972
Địa chỉ: khóm 5, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B.
(Anh Ng, chị N vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là anh Nguyễn Hữu Ng trình bày tại đơn khởi kiện, các lời khai: Anh và chị Phạm Thị N chung sống từ năm 1990, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Anh yêu cầu ly hôn với chị N vì vợ chồng chung sống không hòa hợp, mâu thuẫn, bất đồng thường xảy ra. Thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trúc A sinh năm 1997 và Nguyễn Trúc Đ sinh ngày 21/6/2006. Con tên Trúc Anh đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Con tên Trúc Đào đang sống với chị N, con có nguyện vọng sống với chị N nên anh đồng ý giao chị N nuôi dưỡng, giáo dục, không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận, không tranh chấp, về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh theo đơn yêu cầu theo đơn đã gửi.
Bị đơn là chị Phạm Thị N trình bày tại các lời khai: Chị thống nhất với anh Ng về thời gian chung sống, việc không đăng ký kết hôn và có 02 con chung như anh Ng khai. Về quan hệ vợ chồng chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh Ng. Về con chung tên Trúc Anh đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; con chung tên Trúc Đào yêu cầu nhận nuôi theo nguyện vọng của con, không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận, về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt chị theo đơn yêu cầu với ý kiến chị đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc gửi các văn bản cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng thời hạn. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt anh Ng, chị N theo quy định tại các điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; áp dụng điểm b, mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 và áp dụng điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14: Về hôn nhân: Không công nhận anh Nguyễn Hữu Ng và chị Phạm Thị N là vợ chồng. Về nuôi con chung: ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Nguyễn Hữu Ng và bị đơn Phạm Thị N có yêu cầu xét xử vắng mặt gửi tòa án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ng, chị N theo quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về thời gian chung sống: Anh Nguyễn Hữu Ng và chị Phạm Thị N thống nhất chung sống từ năm 1990, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Hai bên thống nhất ly hôn do khi sống chung không có sự hòa hợp và có nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy anh Ng và chị N đã thống nhất việc ly hôn nhưng không thể ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của các đương sự do cả hai đều xác định chung sống với nhau mà không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình. Do đó việc chung sống như vợ chồng của anh chị không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khi có yêu cầu ly hôn thì Tòa án không xử cho ly hôn hay bác yêu cầu hoặc công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của các bên mà tuyên bố không công nhận anh chị là vợ chồng theo quy định tại điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.
Về nuôi con chung: Chị N, anh Ng xác định chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Trúc A sinh năm 1997 và Nguyễn Trúc Đ sinh ngày 21/6/2006. Con chung tên Trúc Anh đã trưởng thành, các bên không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Con chung tên Trúc Đào có nguyện vọng được sống với chị N theo bản tự khai. Chị N, anh Ng thống nhất theo nguyện vọng của con. Hội đồng xét xử xét thấy các bên đã tự nguyện thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, sự thỏa thuận này phù hợp với quy định của pháp luật nên được ghi nhận. Chị Phạm Thị N nhận nuôi con không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết. Anh Nguyễn Hữu Ng không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Về tài sản và nợ chung: Về tài sản chung hai bên thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về nợ chung hai bên xác định không có, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp với quy định nên HĐXX ghi nhận.
Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu Ng phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Ng đã dự nộp 300.000 đồng lai thu số 0004344 ngày 03/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai được chuyển thu án phí. Chị Phạm Thị N không phải nộp án phí.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 14, 53, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc hướng dẫn thi hành luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/. Về hôn nhân: Không công nhận anh Nguyễn Hữu Ng và chị Phạm Thị N là vợ chồng.
2/- Về nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa anh Ng và chị N, cụ thể: Con chung tên Nguyễn Trúc A sinh năm 1997 đã trưởng thành, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; Giao chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Trúc Đ sinh ngày 21/6/2006; không đặt ra giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu. Anh Nguyễn Hữu Ng không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
3/- Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4/- Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu Ng phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Ng đã dự nộp 300.000 đồng lai thu số 0004344 ngày 03/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND thị xã Giá Rai; - Chi cục THA thị xã Giá Rai; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Giang Thi ̣ Cẩm Thuy ́ |