vanban.org

Bản án 116/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vàng A L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2021/HS-ST.
Ngày: 29-9-2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Thủy và ông Ngô Văn Dự.

Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2021/TLST- ST ngày 14 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2021/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:

Vàng A L; tên gọi khác, không, sinh năm 1958, sinh tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Trú tại: Bản S, xã Tân X, huyện V, tỉnh Sơn La. Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; Đảng phái, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông Vàng A L, con bà Giàng Thị M (Đều đã chết); bị cáo có vợ là Sùng Thị D và 06 con lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 2006.

Tiền án: Ngày 23/02/2017 bị TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xử phạt 36 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 06/7/2019. Tiền sự không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 29/6/2021 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đàm Mạnh Hùng là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h00 ngày 24/6/2021, L đi bộ từ nhà đến bản Bướt, xã Tân Xuân, huyện Vân Hồ, khi đi đên cầu bản Bướt thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. L hỏi và mua được của người đó 02 túi ma túy, trong đó: Túi thứ nhất bên ngoài bọc lớp nilon màu xanh, bên trong là nilon màu hồng, trong cùng chứa 04 viên Hồng phiến. Túi thứ hai bọc lớp nilon màu hồng bên trong đựng 24 góinilon màu hồng, trong mỗi gói đều chứa Heroine với giá 1.000.000 đồng. L cấp giấu số ma túy mua được vào túi áo ngực bên trái đang mặc trên người rồi đi làm ruộng tại bản Sa Lai, xã Tân Xuân, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Khi đến ruộng, L mở hai gói ma túy ra và sử dụng hết 02 viên Hồng phiến và 02 gói nhỏ dựng Heroine. Sau khi sử dụng xong, số còn lại L gói lại như cũ rồi lấy 01 túi nilon màu hồng gói ra bên ngoài rồi cất vào trong túi áo ngực bên trái chiếc áo đang mặc trên người. Khoảng 10h00 ngày 29/6/2021, L đi làm ruộng ở bản Sa Lai, xã Tân Xuân và tiếp tục lấy ra một gói nhỏ chứa Heroine để sử dụng, số ma túy còn lại L gói lại rồi cất ở túi áo ngực bên trái đang mặc trên người. Khi vừa sử dụng xong thì tổ công tác Công an xã Tân Xuân kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng gồm: 01 túi nilon màu hồng bên trong đựng 01 túi nilon: Túi thứ nhất bên ngoài bọc lớp nilon màu xanh, bên trong là nilon màu hồng, trong cùng chứa 02 viên nén màu hồng; Túi thứ hai bọc lớp nilon màu hồng bên trong đựng 21 góinilon màu hồng, trong mỗi gói đều chứa Heroine; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng.

Ngày 29/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Hồ và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 02 viên nén màu hồng và 21 gói chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A L, kết quả như sau: 02 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,19 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định kỳ hiệu L; số chất bột màu trắng trong 21 gói nilon màu hồng.tổng khối lượng là 0,583 gam, lấy lần lượt các mẫu giám định ký hiệu từ L1 đến L21. Các mẫu giám định L và L1 đến L21 được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số 1220 ngày 01/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 đến L21 đều là ma túy; Loại Heroine; tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,583 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam; loại Methamphetamine và 0,583 gam; loại Heroine”. Không hoàn lại đối tượng giám định.

Tại bản Cáo trạng số: 88/CT-VKS ngày 13/9/2021 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vàng A L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Vàng A L, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Vàng A L từ 21 đến 24 tháng tù.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói nilon ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Vàng A L; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX xem xét, miễm án phí cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đều nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX xem xét, miễm án phí cho bị cáo.

Bị cáo không có tranh luận gì, nhất trí với bài bào chữa của trợ giúp viên pháp lý, không có ý kiến bổ sung.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội cho rằng, bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, mức hình phạt Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo là phù hợp với tính chất hành vi mà bị cáo đã gây ra, phù hợp với tình hình tội phạm ma túy tại huyện Vân Hồ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Ngày 29/6/2021, Vàng A L bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,19 gam Methamphetamine và 0,583 gam; loại Heroine. Bị cáo tàng trữ trái phép 2 chất ma túy. Căn cứ quy định tại Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất lượng ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng của Heroine và Methamphetamine bị cáo tàng trữ là 0,773 gam. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ đã vi phạm điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

. Tính chất hành vi của bị cáo: bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ 0,773 gam Heroine và Methamphetamine, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiện hình sự:

Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã bị bị xét xử về tội phạm ma túy, bị cáo nhận thức biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm, nhưng do nghiện ma túy, coi thường pháp luật, cố tình phạm tội nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 23/02/2017 bị TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích. Bị cáo tiếp tục phạm tội do vậy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự là tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + mảnh nilon của vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Vàng A L; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng, là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo không quen biết, ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ nào để điều tra xử lý người bán ma túy cho bị cáo, do đó không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vàng A L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + mảnh nilon của vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Vàng A L; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng số 114 ngày 14/9/2021 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ