- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Phạm Thị Ngọc N và Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Ngọc N được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2021/HNGĐ-ST Ngày: 01/12/2021 V/v tranh chấp: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc An.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Loan.
3. Ông Trương Văn Hơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Vĩnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Dũ, Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 468/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2020 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp 3, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.(có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp 7, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 24/11/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Phạm Thị Ngọc N trình bày:
Chị và anh T kết hôn và sống chung từ năm 2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị và anh T bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, đánh đập chị, sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay. Vợ chồng không có hàn gắn trao đổi tình cảm, hiện tại không còn sống chung, không còn liên lạc với nhau. Nay không còn tình cảm với anh T nên chị N yêu cầu:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 11/6/2019; Khi ly hôn, chị N yêu cầu anh T trực tiếp nuôi con, chị không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Nguyễn Văn T đã được tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc N.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án và tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40; Điều 68; Điều 93 đến Điều 97; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc N, cho chị Phạm Thị Ngọc N được ly hôn với anh Nguyễn Văn T, giao con chung tên Nguyễn Hoàng S cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết; chị N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn Phạm Thị Ngọc N có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc N và anh Nguyễn Văn T kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 68 ngày 28/5/2019, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Chị Phạm Thị Ngọc N cho rằng quá trình sống chung, chị và anh Nguyễn Văn T tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, anh T nhậu về đánh chị N rất nhiều lần, sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ, tạo cơ hội cho anh T sửa chữa nhưng anh T vẫn không thay đổi.
Bị đơn Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không nộp bản tự khai, vắng mặt tại các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa.
Xét, anh Nguyễn Văn T thường hay nhậu về đánh đập chị N nhiều lần, tính tình không hợp nhau; không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; giữa chị Phạm Thị Ngọc N và anh Nguyễn Văn T không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chị Phạm Thị Ngọc N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 11/6/2019. Khi ly hôn, chị Phạm Thị Ngọc N yêu cầu anh T nuôi dưỡng con chung, chị N không cấp dưỡng nuôi con.
Xét, chị Phạm Thị Ngọc N có đơn trình bày con chung tên Nguyễn Hoàng S hiện nay đang sống với anh Nguyễn Văn T, chị đi làm xa không có điều kiện chăm sóc và cũng mong muốn con chung sống với anh T và anh Nguyễn Văn T cũng không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị N nên yêu cầu giao con chung cho anh Nguyễn Văn T, là có căn cứ, phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc N không cấp dưỡng nuôi con và anh Nguyễn Văn T cũng không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Ngọc N trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Ngọc N được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 11/6/2019 cho anh Nguyễn Văn T nuôi dưỡng.
Chị Phạm Thị Ngọc N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có;
- Về án phí: Chị Phạm Thị Ngọc N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0018328 ngày 03/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tiền Giang, nên xem như đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát ND huyện G; - Chi cục THADS huyện G; -UBND xãT,huyệnG; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc An |