- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường V + ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường V và bị cáo Lê Quốc Mphạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2020/HS-ST Ngày 23-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quang Xẹt;
2. Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Bá Trung- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trường V, sinh năm 1997 tại K; hộ khẩu thường trú: Ấp Vĩnh Thuận, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: khu phố 1, phường HN, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975 và bà Thị Út H1, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: không; bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-02-2020. Có mặt.
2. Lê Quốc M, sinh năm 2001 tại H; hộ khẩu thường trú: Ấp Long Hòa A2, xã L, huyện P, tỉnh H; tạm trú: khu phố 7, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thị Bạch Y, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: không; bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-02-2020. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Quốc P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ 3, khu phố 7, phường Uyên Hưng, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
2. Bà Lê Thị Hồng D, sinh năm 2003; nơi cư trú: Tổ 4, khu phố 8, phường Uyên Hưng, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10-02-2020, do cần ma túy sử dụng V thuê xe Honda ôm đi từ phường HN, thị xã T đến khu phố Ông Đông, phương TH để gặp đối tượng (không rõ nhân thân) để mua 3.000.000 đồng ma túy đá. Sau khi mua xong V mang về phòng trọ số 3, nhà trọ Sáng Vân 2 thuộc khu phố 1, phường HN, thị xã T, tỉnh Bình Dương do V thuê, cất giấu ma túy để sử dụng dần và để bán lại cho các đối tượng sử dụng ma túy khác.
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 11-02-2020, sau khi V và M tan ca tại Công ty gỗ Trường Thành thì Vđiều khiển xe mô tô biển số 68G1-699.90 chở M về phòng trọ của V để cả hai cùng sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy V nhận được tin nhắn từ mạng xã hội zalo của Lê Thị Hồng D hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì V đồng ý. V kêu D đi đến khu nhà trọ Vân Sáng 2 sẽ có người giao ma túy và nói với D đặc điểm của người giao ma túy là thanh niên mặc áo bảo vệ màu xanh. Sau khi nghe điện thoại xong V đưa cho M xem hình đại diện của D trong zalo và 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá. Sau đó V nói M đi ra phía trước cổng khu nhà trọ đưa cho D và lấy 300.000 đồng vào đưa cho V thì M đồng ý. M cầm gói ma túy ra trước cổng nhưng không thấy D nên M quay lại nói với V không thấy D, V nghe vậy nên gọi cho D nói M mặc áo bảo vệ đang đứng ở phía trước nhà trọ và kêu M tiếp tục ra trước nhà trọ. Lúc này, Nguyễn Quốc P là bạn cùng quê với V đến phòng V chơi và cả hai cùng sử dụng ma túy. M ra tới cổng thì nhìn thấy D, D đi đến chổ M đứng đưa cho M 300.000 đồng, M cầm tiền nhưng chưa kịp đưa ma túy cho D thì bị lực lượng tuần tra Công an phường HN phát hiện yêu cầu M và D xuất trình giấy tờ và lấy đồ vật trên người ra kiểm tra. Lúc này, M đưa tay trái đang cầm 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và khai nhận đây là ma túy do V nhờ M đem bán cho D với giá 300.000 đồng. Công an phường HN đã tiến hành thu giữ và niêm phong vật chứng gồm:
- 01 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.
- Số tiền 300.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu ghi của Lê Thị Hồng D.
Sau đó Công an phường HN lập hồ sơ ban đầu và tiến hành bàn giao M cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T. Công an thị xã T đã tiến hành khám xét nhà trọ của V đã thu giữ:
- 01 hộp giấy hình chữ nhật kích thước 15x10x05cm trên nền gạch giữa phòng trọ, bên trong hộp chứa: 01 bịch nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 10 bịch nylon miệng keo dính kích thước 1,5x02cm, 20 bịch nylon miệng keo dính kích thước 0,4x7,5cm; 01 nỏ thủy tinh.
- 50 bịch nylon miệng kéo kích thước 0,4x7,5cm trên nền gạch cạnh chân cầu thang lên gác phòng trọ.
- 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng trên kệ để thức ăn trong phòng trọ.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiến hành thu giữ:
- 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trường V; 01 xe mô tô nhãn hiệu Satria màu đen xám biển số 68G1-699.90; 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 68G1-699.90; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đỏ của Nguyễn Trường V.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7 màu đỏ của Nguyễn Trường V.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 prime màu hồng của Lê Quốc M.
Tại Bản kết luận giám định 57/MT-PC09 ngày 18 tháng 02 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám địnhcủa Lê Quốc M có khối lượng 0,1162gamlà ma túy loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định 56/MT-PC09 ngày 17 tháng 02 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 01 túi nylon miệng kéo chứa tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) và 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2) của Nguyễn Trường V là ma túy có khối lượng 3,3728 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Đối với đối tượng tên không rõ nhân thân đã bán ma túy cho V do chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Điều tra sẽ tiếp tục làm rõ và xử lý sau.
Cáo trạng số 114/CT-VKSTU ngày 25-5-2020 của Việnkiểm sát nhân dân thị xã T quyết định truy tốbị cáo Nguyễn Trường V và bị cáo Lê Quốc Mvề tội “Mua bántrái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trường V và bị cáo Lê Quốc Mthừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo V khai nhận đã nhiều lần mua ma túy của người đàn ông không rõ nhân thân tại khu khu phố Ông Đông, phường Tân Hiệp, thị xã T, tỉnh Bình Dương để sử dụng. Vào ngày 10-02-2020, V tiếp tục mua của người này 3.000.000 đồng ma túy. Sau đó, V đã tách một bịch nylon chứa ma túy sử dụng được một ít, số còn lại cất giấu tại phòng trọ số 3, nhà trọ Sáng Vân 2 thuộc khu phố 1, phường HN, thị xã T, tỉnh Bình Dương dự định sẽ đem bán cho các con nghiện. Ngày 11-02-2020,
Nguyễn Trường V đưa ma túy cho Lê Quốc M để bán cho Lê Thị Hồng D thì bị bắt quả tang.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251 và điểm s khoản 1Điều 51 và xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Trường Vtừ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm tù về tội “Mua bántrái phép chất ma túy”.
Bị cáo Nguyễn Quốc M từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và công cụ, phương tiện phạm tội gồm:
+ 01 hộp giấy hình chữ nhật kích thước 15x10x05cm;
+ 10 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 1,5x2cm);
+ 20 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 4x7,5cm);
+ 50 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 4x7,5cm);
+ 01 nỏ thủy tinh;
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế;
- Hoàn trả01 xe mô tô nhãn hiệu Satria màu đen xám biển số 68G1-699.90 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 68G1-699.90 cho bị cáo Nguyễn Trường V.
- Hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đỏ và 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trường V cho bị cáo V.
- Hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 prime màu hồng của Lê Quốc M cho bị cáo M;Hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7 màu đỏ cho ông Nguyễn Quốc P.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu ghi của bà Lê Thị Hồng D;
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Trường V nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lê Quốc M nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Quốc P và bà Lê Thị Hồng D; người làm chứng ông Nguyễn Xuân Hùng Dũng và ông Nguyễn Đức Hạnhvắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trường V và bị cáo Lê Quốc Mđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 10-02-2020, V mua 3.000.000 đồng ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), sau đó, V đã tách một bịch nylon chứa ma túy sử dụng được một ít, số còn lại cất giấu tại phòng trọ số 3, nhà trọ Sáng Vân 2 thuộc khu phố 1, phường HN, thị xã T, tỉnh Bình Dương dự định sẽ đem bán cho các con nghiện. Ngày 11-02-2020 tại nhà trọ Sáng Vân 2 thuộc khu phố 1, phường HN, thị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn trường V đưa cho bị cáo Lê Quốc M 0,1162gam ma túy loại methamphetamine để bán cho Lê Thị Hồng D với giá 300.000 đồng, khi M bán cho D thì bị bắt quả tang. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với bà Lê Thị Hồng D và ông Nguyễn Quốc P có hành vi dsuwr dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an phường HN, thị xã T, tỉnh Bình Dương xử phật hành chính theo quyết định số 44, 45 ngày 16-02-2020, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Nguyễn Trường V và bị cáo Lê Quốc Mvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theokhoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sựlà có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáolà nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ý thức được tác hại của ma túy đối với xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện,bất chấp hậu quả. Hiện nay, tình hình tội phạm vềma túyđang diễn ra phức tạp, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự. Do đó, cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo, rèn luyện, phấn đấu trở thành công dân có ích. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo,Hội đồng xét xử xem xét toàn diện tínhchất, mức độhành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để có một hình phạt tương xứng nhằm giáo dục các bị cáo vàphòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành tịch thu tiêu hủy.
- Đối với:01 hộp giấy hình chữ nhật kích thước 15x10x05cm;10 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 1,5x2cm); 20 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 4x7,5cm);50 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 4x7,5cm);01 nỏ thủy tinh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế: Không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đỏ là tài sản riêng của bị cáo Nguyễn Trường V nên hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Trường V; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7 màu đỏ của là tài sản riêng của ông Nguyễn Quốc P nên hoàn trả cho ông P.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Satria màu đen xám biển số 68G1-699.90 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 68G1-699.90 là tài sản riêng của bị cáo Nguyễn Trường V nên hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Trường V.
- Hoàn trả 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trường V là giấy tờ tùy thân của bị cáo V.
- Hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 prime màu hồng là tài sản riêng của bị cáo Lê Quốc M.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu ghi; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
Đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo và biện pháp xử lý vật chứng là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phảinộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường V và bị cáo Lê Quốc Mphạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 58 vàđiểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường V 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11-02-2020.
Xử phạt bị cáo Lê Quốc M02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11-02-2020.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy đối với:
+ 3,1547 gam ma túy loại Methamphetamin (hoàn lại sau giám định) bên trongbì thư niêm phong ký hiệu 56/PC09, có chữ ký của bị cáo Nguyễn Trường V theo kết luận giám định số 56/MT-PC09 ngày 17-02-2020.
+ 0,0653 gam ma túy loại Methamphetamin (hoàn lại sau giám định) bên trong bì thư niêm phong ký hiệu 57/PC09, có chữ ký của bị cáo Lê Quốc M, theo kết luận giám định só 57/MT-PC09 ngày 17-02-2020.
+ 01 hộp giấy hình chữ nhật kích thước 15x10x05cm;
+ 10 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 1,5x2cm);
+ 20 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 4x7,5cm);
+ 50 bịch nylon miệng kéo dính (kích thước 4x7,5cm);
+ 01 nỏ thủy tinh;
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế;
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu ghi; số tiền 300.000 đồng theo ủy nhiệm chi ngày 28-5-2020;
- Hoàn trả: 01 xe mô tô nhãn hiệu Satria màu đen xám biển số 68G1-699.90 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 68G1-699.90 và01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đỏ cho bị cáo Nguyễn Trường V.
- Hoàn trả 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trường V cho bị cáo V.
- Hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu hồng cho bị cáo Lê Quốc M;
- Hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7 màu đen cho ông Nguyễn Quốc P;
(TheoBiên bản giao nhận vật chứng ngày 28-5-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban thương vu ̣ Quốc hô ̣i
̀ khóa 14 quy đi ̣nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Trường V và bị cáo Lê Quốc M mỗi ngườiphải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã T; - Công an thị xã T; - Chi cục THADS thị xã T; - Các bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Sơn |