- Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN TÒNG VĂN O - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2020/HS-ST Ngày 30/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nguyên và ông Đào Ngọc Khải.
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Phương Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 30/11/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2020/HSST ngày 15/10/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2020/QĐXXST-HS ngày 16/11/2020, đối với bị cáo:
* Tòng Văn O, sinh năm 1998; hộ khẩu thường trú: Bản S, xã C, huyện M, tỉnh S; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Lường Văn S (đã chết) và con bà Tòng Thị N; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Mạnh S, sinh năm 1985 và anh Phùng Xuân C, sinh năm 1982, đều trú tại: Thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh H. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 22/7/2020, tại khu vực đường bê tông, cạnh đình thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh H, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hưng Yên phát hiện Tòng Văn O, sinh năm 1998, HKTT: Bản S, xã C, huyện M, tỉnh S có dấu hiệu tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra đã thu giữ 05 gói giấy bên trong đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột tại túi quần phía trước bên trái O đang mặc (được niêm phong ký hiệu M1), 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu bạc và 500.000 đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Tòng Văn O tại thôn Q, xã Dương Q, huyện G, Tp. H, Cơ quan CSĐT không thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 252/MT-PC09 ngày 25/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1 có khối lượng 0,553g là ma túy loại Heroine.
Quá trình điều tra Tòng Văn O khai nhận: 05 gói giấy bên trong đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột mà Cơ quan CSĐT đã thu giữ là ma túy loại Heroine. Số ma túy này O mua của người đàn ông khoảng 30 tuổi ở khu vực cầu vượt Phú Thụy, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội vào sáng ngày 22/7/2020 với số tiền 700.000 đồng, O mang số Heroine mua được về phòng trọ chia làm 09 gói gồm 02 gói to sẽ bán 300.000đồng/gói và 07 gói nhỏ sẽ bán 100.000đồng/gói. Tòng Văn O đã sử dụng 01 gói nhỏ ngay tại phòng, sau đó mang 08 gói Heroine còn lại đi bán ở khu vực thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh H, O đã bán 03 gói nhỏ cho 02 người thanh niên được 300.000 đồng (một người mua 01 gói và một người mua 02 gói), còn 05 gói O mang theo người để tiếp tục bán cho các con nghiện để kiếm lời. Khi O đang đi bộ ở khu vực đường bê tông, cạnh đình thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh H chờ người đến mua ma túy đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt giữ.
Đối với những thanh niên mua ma túy của Tòng Văn O, O không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Do vậy, chưa đủ căn cứ xác định O đã bán ma túy đối với 02 người trở lên hoặc phạm tội 02 lần trở lên.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Tòng Văn O tại khu vực cầu vượt Phú Thụy, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội, do O không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ thông tin để xác minh xử lý.
Vật chứng đang bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh Hưng Yên gồm:
- 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 252/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.
- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone vỏ màu bạc bên trong lắp thẻ sim liên lạc Viettel có bốn số cuối trên sim là 3239.
- Số tiền 500.000 đồng Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên nộp vào tài khoản tạm gửi chờ xử lý tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Hưng Yên.
Cáo trạng số 117/CT-VKS-P1 ngày 15/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Tòng Văn O về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Tòng Văn O thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn O phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Tòng Văn O từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2020. Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn O thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Kết luận giám định số 252/MT-PC09 ngày 25/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là anh Nguyễn Mạnh S và anh Phùng Xuân C, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 22/7/2020 tại khu vực đường bê tông, cạnh đình thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh H, Tòng Văn O đang tàng trữ trái phép 05 gói Heroin với khối lượng 0,553 gam với mục đích để bán kiếm lời đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra bắt giữ.
Bị cáo Tòng Văn O là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng đều bị pháp luật cấm, nhưng vì vụ lợi nên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ Heroine với mục đích bán để kiếm lời. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Tòng Văn O về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vì vụ lợi bị cáo đã bất chấp những quy định nghiêm khắc của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, xử phạt bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân tộc, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng và không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp:
- Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu của O, O không sử dụng vào mục đích mua bán ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.
- Trong số tiền 500.000 đồng thu của bị cáo O thì có 300.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy mà có cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, còn lại 200.000 đồng không liên quan đến tội phạm sẽ trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo Tòng Văn O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn O phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Tòng Văn O 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2020.
* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Tòng Văn O.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 252/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.
- Tịch thu của bị cáo Tòng Văn O số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
- Trả lại bị cáo Tòng Văn O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ mầu bạc bên trong lắp thẻ sim liên lạc Viettel có bốn số cuối trên sim là 3239 và số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Số tiền trên đang gửi tại tài khoản tạm thu của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Hưng Yên.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKS-P1 ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
3. Về án phí: Bị cáo Tòng Văn O phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 - TAND Tối cao; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - PC04- Công an tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VPCQ, Tòa hình sự./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Biểu |