vanban.org

Bản án 116/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 20/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc Th 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/02/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Thành - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2020/HS - ST
Ngày: 20/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Phương Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Trần Văn Huy

2. Bà Lê Thị Thu Hạnh

Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thùy Liên - Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên

Trong các ngày 14 và 20 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2020/HS- ST ngày 08/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2020/QĐXXST - HS ngày 01/7/2020 đối với bị cáo:

PHẠM NGỌC Th, sinh năm 1983; HKTT: Thôn Y, xã T, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Ngọc Chứng và bà Nghiêm Thị Gái; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 4; Tiền án, tiền sự: Có 02 tiền án: Ngày 06/10/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng (Bản án số 215/2003/HSST ngày 06/10/2003 – Đã được xóa án tích); Ngày 05/01/2006 bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 16 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt 08 tháng tù của bản án số 215/2003/HSST ngày 06/10/2003 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 16 năm 08 tháng tù (bản án số 08/2006/HSPT ngày 05/01/2006 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao – Chưa được xóa án tích) - Theo Danh chỉ bản số 162 lập ngày 26/02/2020 tại Công an huyện Thanh Trì; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 25/02/2020, tạm giam ngày 28/02/2020, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội – Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 15 phút ngày 25/02/2020, tại khu vực thôn Yên Ngưu, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện Thanh Trì làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện Phạm Ngọc Th đi bộ có biểu hiện nghi vấn. Khi kiểm tra hành chính, Tổ Công tác phát hiện và thu giữ 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng tại lòng bàn tay trái của Thành. Tại chỗ Thành khai nhận: Gói ma túy này là của Th mua của một người đàn ông không quen biết tại Khu vực đường bờ sông Tô Lịch thuộc thôn Yên Ngưu, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì với giá 200.000 đồng để sử dụng vì nghiện ma túy. Th không có ý định bán lại

Xét nghiệm ma túy đối với Phạm Ngọc Th: Kết quả dương tính.

Tại Kết luận giám định số 1541/KLGĐ-PC09 ngày 03/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,170 gam.

Bản cáo trạng số 95/CT - VKSTT ngày 08/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Phạm Ngọc Th thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo về tội danh là đúng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo chỉ phạm vào khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự chứ không không phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì rút một phần quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù;

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, Kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 25/02/2020, tại khu vực đường bờ sông thuộc thôn Yên Ngưu, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Phạm Ngọc Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,170 gam ma túy loại Heroin – một chất ma túy độc hại với mục đích để sử dụng. Đối chiếu quy định pháp luật, Phạm Ngọc Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Thành có 02 tiền án, trong đó có Bản án số 215/2003/HSST ngày 06/10/2003, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng đương nhiên được xóa theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội bởi giá trị tài sản mà Thành tham gia trộm cắp là 1.700.000 đồng. Do vậy, bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Tại phiên tòa, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã rút một phần quyết định truy tố: Chuyển truy tố bị cáo từ tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” từ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự sang điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên được chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người, làm sói mòn đạo đức xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, với bị cáo cần thiết áp dụng hình phạt tù nghiêm, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Tiền án năm 2006 tại Bản án số 08/2006/HSPT ngày 05/01/2006 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xét xử đối với bị cáo chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”.

- Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Tại Cơ quan điều tra và tại Phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, trọng lượng ma túy tàng trữ nhỏ; Bố đẻ bị cáo là ông Phạm Ngọc Chứng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba - là các tình tiết giảm nhẹ để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo có trọng lượng còn lại sau giám định 0,150 gam Heroin là chất Nhà nước cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Th, Th khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhận dạng được người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc Th 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/02/2020.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,150 gam Heroin (lượng ma túy còn lại sau giám định).

Tang vật hiện đang lưu giữ tại Kho Tang vật - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/6/2020).

4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ