vanban.org

Bản án 116/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 25/12/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr , sinh ngày 07/6/2017 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "án Hường Hà ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2020/HNGĐ-ST
Ngày 25/12/2020.
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- TH2nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến - Cán bộ hưu.

Ông Nguyễn Ngọc Sửu - Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 25/12/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 128/2020/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/11/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 116a/2020/QĐST-HNGĐ ngày 02/12/2020 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 29/01/1997.

Địa chỉ: thôn T, xã HG, huyện YD, tỉnh BG.

( Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

*Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh ngày 05/7/1996.

Địa chỉ: thôn T, xã HG, huyện YD, tỉnh BG.

Hiện nay đang đi lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.

(Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Tôi và anh Nguyễn Văn H1 tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân theo phong tục địa phương. Chúng tôi đăng ký kết hôn ngày 03/6/2016 tại UBND xã HG, huyện YD, tỉnh BG. Sau khi cưới thì chúng tôi ở riêng không sống cùng gia đình nhà chồng. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khoảng năm 2019 thì chúng tôi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H1 đi nước ngoài không còn quan tâm đến tôi và gia đình, vợ chồng không còn liên lạc với nhau và quan tâm nhau nữa. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay tôi xác định tình cảm với H1 không còn,mục đích hôn nhân không đạt được. Tôi đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho tôi được ly hôn với anh H1.

- Về con chung: Chúng tôi có 01 chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 07/6/2017. Hiện nay con chung đang ở với tôi, sau khi ly hôn tôi đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Nguyễn Văn H1.

* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua bố đẻ của anh H1 là ông Nguyễn Đức H2 – sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn T, xã HG, huyện YD, tỉnh BG. Ông Nguyễn Đức H2 có quan điểm trình bày như sau:

- Tôi là bố đẻ của anh Nguyễn Văn H1 có địa chỉ như trên. Hiện nay con tôi đang đi lao động tại Nhật Bản không có mặt tại địa phương, nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình tôi. Con tôi đi nước ngoài khoảng cuối năm 2018. Về địa chỉ của con tôi ở bên nước ngoài thì tôi không biết và không nắm được chính xác nên không cung cấp cho Tòa án.

- Về việc chị Nguyễn Thị H xin ly hôn thì con tôi có trao đổi về với gia đình là:

+ Về quan hệ hôn nhân: Con tôi (Nguyễn Văn H1) đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H. Con tôi (H1) kết hôn với chị H vào năm 2016 tại UBND xã HG, sau khi kết hôn thì chị H về nhà tôi làm dâu và chúng tôi có cho vợ chồng H1, H ở riêng ở một đất khác của nhà tôi. Ban đầu vợ chồng hai cháu sinh sống cũng hòa thuận hạnh phúc. Về mâu thuẫn của vợ chồng anh H1, chị H thì tôi không nắm được. Tôi cũng đã khuyên giải nhiều lần, nhưng nguyện vọng các con không muốn ở cùng nhau nữa thì đây là việc của hai cháu. Chị H hiện nay không ở cùng nhà tôi nữa mà về nhà bố mẹ đẻ từ khoảng năm 2019.

+ Về con chung: anh H1, chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 07/6/2017. Hiện nay con chung đang ở với chị H. Sau khi ly hôn con tôi đề nghị để chị H nuôi dưỡng con chung vì anh H1 đang ở nước ngoài, về cấp dưỡng thì các con tôi tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung, công nợ: Không có.

- Tòa án yêu cầu gia đình tôi thông báo để anh Nguyễn Văn H1 gửi quan điểm về cho Tòa án thì chúng tôi từ chối thực hiện.

* Tại đơn xin xác nhận đề ngày 21/9/2020 của ông Nguyễn Đức H2 là bố của anh H1 có xác nhận của UBND xã Hương Gián thì anh Nguyễn Văn H1, sinh ngày 05/7/1996, địa chỉ: thôn T, xã HG, huyện YD, tỉnh BG và anh Nguyễn Đức H1, sinh ngày 20/5/1996 là cùng một người, không phải hai người khác nhau.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị H xin vắng mặt, không có quan điểm gì khác về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56-Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.Về con chung: căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 07/6/2017 cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng, về cấp dưỡng chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Tài sản chung, công nợ: chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: căn cứ khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc chị Nguyễn Thị H pH3 chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

.Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị H là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn H1. Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: thôn T, xã HG, huyện YD, tỉnh BG nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 16852/QLXNC-P5 ngày 28/9/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì anh Nguyễn Văn H1 đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 05/12/2018, chưa thấy thông tin nhập cảnh về Việt Nam; không có thông tin địa chỉ nước đến, địa chỉ ở nước ngoài của anh Nguyễn Văn H1. Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì đây được coi là trường hợp anh Nguyễn Văn H1 cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn H1 theo quy định tại khoản 5, Điều 177; Điều 179 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn H1.

. Về quan hệ hôn nhân:

. Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn H1 trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 03/6/2016 tại UBND xã HG, huyện YD, tỉnh BG. Trong giấy chứng nhận kết hôn của UBND xã HG có ghi tên người chồng là Nguyễn Đức H1, sinh ngày 20/5/1996. Tuy nhiên theo đơn đề nghị của ông Nguyễn Đức H2 và các tài liệu do UBND xã HG cung cấp, xác nhận thì có căn cứ xác định anh Nguyễn Đức H1, sinh ngày 20/5/1996 và anh Nguyễn Văn H1, sinh ngày 05/7/1996 trong giấy chứng nhận kết hôn chính là một người. Ban đầu vợ chồng chị H, anh H1 chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H là do anh H1 đi nước ngoài, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên không còn liên lạc và quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1. Thông qua người thân (là bố đẻ) anh Nguyễn Văn H1 có quan điểm đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

. Hội đồng xét xử thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 là hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Hiện chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 mỗi người sống một nơi, xa cách về địa lý và không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống nữa, vợ chồng mâu thuẫn cắt đứt liên lạc. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 đều đồng ý ly hôn. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.

. Về con chung:

. Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 07/6/2017. Hiện nay cháu Tr đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng. Anh H1 có quan điểm đồng ý để chị H nuôi dưỡng con chung vì anh H1 đang ở nước ngoài.

. HĐXX thấy: Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án anh H1 không có mặt tại gia đình mà đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Do đó anh H1 không trực tiếp nuôi dưỡng con chung được. Chị H có nguyện vọng được nuôi con chung và anh H1 cũng đồng ý để chị H nuôi con chung. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao 01con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 07/6/2017 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trường hợp anh Nguyễn Văn H1 về Việt Nam và có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung thì có thể làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84-Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị Nguyễn Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.

2. Về con chung:

- Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr , sinh ngày 07/6/2017 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Thị H không yêu cầu cấp dưỡng.

- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Trường hợp anh Nguyễn Văn H1 về Việt Nam và có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung thì các đương sự có thể làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000711 ngày 08/10/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

4. Về quyền kháng cáo:

- Anh Nguyễn Văn H1 hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

- Chị Nguyễn Thị H cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi H2nh án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9-Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ