- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng thi công"
- Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2019/KDTM-PT Ngày: 20/02/2019 V/v Tranh chấp hợp đồng thi công |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trinh
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Văn Dũng
Bà Hà Thanh Thủy
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Phượng – Cán
bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Trần Anh Tuấn– Kiểm sát viên
Trong các ngày 04/01/2019, 21/01/2019 và ngày 20/02/2019, tại trụ sở
Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 26 Lê Thánh Tôn, phường Bến
Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ
lý số: 111/2018/KDTM-PT ngày 08/11/2018 về việc tranh chấp hợp đồng thi
công.
Do bản án kinh doanh sơ thẩm số 85/2018/KDTM-ST ngày 26/9/2018 của
Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6058/2018/QĐ-PT ngày 05 tháng
12 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty CP WXS Việt Nam
Địa chỉ: ĐY, xã TN, huyện NT, tỉnh QN
Đại diện theo ủy quyền: Bà Phùng Thị M – Sinh năm 1990 (Giấy ủy
quyền ngày 24/12/2018)
Địa chỉ 68/240 TQK, phường TĐ, Quận X, Thành phố H
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn
S - Luật sư thuộc đoàn luật sư Thành Phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Công ty CP Đầu tư và Xây dựng CT
Địa chỉ: 378 LVS, Phường Y, quận TB, Thành phố H
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng V - Sinh năm 1960 (Giấy ủy
quyền ngày 02/01/2019)H Chí Minh
3. Người làm chứng: Ông Lê Văn T- sinh năm 1977
Địa chỉ: Lô N4, đường N24, phường AS, Thành phố TK, tỉnh QN
4. Người kháng cáo: Công ty CP Đầu tư và Xây dựng CT
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì sự việc đươc tóm tắt như sau:
Nguyên đơn Công ty CP WXS Việt Nam (gọi tắt là Công ty WXS Việt
Nam) do bà Phùng Thị Mai đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 26/5/2014 Công ty WXS Việt Nam và chi nhánh Công ty CP đầu tư và xây dựng CT (gọi tắt là Chi nhánh 557) có ký hợp đồng kinh tế số 27/2014/HĐKT về việc thi công rải thảm mặt bê tông nhựa. Theo hợp đồng số 27 thì Chi nhánh 557 sẽ giao cho WXS Việt Nam tiến hành thi công hoàn thiện mặt bê tông nhựa công trình nâng cấp mở rộng Quốc lộ 1A từ Km 1004 đến Km 1006 địa điểm xã Tam Anh, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Giá trị hợp đồng số 27 là 16.349.000.000 đồng. Thời gian thi công kể từ ngày ký hợp đồng đến trước ngày 30/11/2015.
Ngày 25/7/2014 Công ty WXS Việt Nam và chi nhánh 557 ký thêm phụ
lục hợp đồng số 01/2014/BSHĐ điều chỉnh giá trị hợp đồng lên thành 21.344.000.000 đồng. Ngày 15/01/2015 ký phụ lục hợp đồng số 02/04/PLHĐ xác nhận khối lượng và giá trị còn lại chưa thi công của hợp đồng kinh tế số 27 và phụ lục số 01 là 6.310.220.000 đồng.
Sau khi ký hợp đồng số 27, Công ty WXS Việt Nam đã thực hiện việc thi
công đúng như thỏa thuận giữa các bên theo từng giai đoạn, hai bên đã tiến hành nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành 09 đợt, đợt cuối cùng là ngày 31/10/2015. Theo biên bản nghiệm thu khối lượng công trình đợt 9, cả 02 bên cùng xác nhận: “Công ty Wei Xerm Sin Việt Nam đã thi công hoàn thành công trình đạt theo yêu cầu của bên A Chi nhánh công ty CT, hai bên thống nhất nghiệm thu khối lượng và giá trị hoàn thành như trên”. Biên bản nghiệm thu cũng xác nhận tổng giá trị nghiệm thu quyết toán là 19.088.779.404 đồng.
Ngoài ra, ngày 10/5/2014 giữa Công ty WXS Việt Nam và chi nhánh 557
có ký hợp đồng kinh tế số 03/2014/HĐKT, theo đó Công ty WXS Việt Nam sẽ cho Chi nhánh 557 thuê máy rải bánh lốp để thi công rải đá cấp phối phục vụ thi công công trình với giá trị là 150.000.000 đồng. Công ty WXS Việt Nam đã thi công hoàn tất hợp đồng trên với tổng giá trị là 56.037.100 đồng.
Tổng giá trị thanh toán của 02 hợp đồng là 19.148.020.504 đồng, tổng số
tiền Chi nhánh 557 đã thanh toán là 16.690.974.218 đồng. Ngày 22/12/2015 hai bên có lập biên bản đối chiếu công nợ, Chi nhánh 557 xác nhận còn nợ Công ty WXS Việt Nam số tiền 2.457.046.286 đồng. Do phía Công ty 557 trì hoãn kéo dài việc thanh toán nên Công ty WXS Việt Nam khởi kiện yêu cầu:
- Buộc Công ty 557 thanh toán cho Công ty WXS Việt Nam số tiền gốc là
2.457.046.286 đồng và tiền lãi từ tháng 12/2015 đến ngày xét xử theo mức lãi suất 9%/năm.
Bị đơn Công ty CP đầu tư và xây dựng CT do ông Thân Quý Phái đại diện
theo pháp luật trình bày: Hợp đồng số 27 và hợp đồng số 03 giữa chi nhánh 557 và Công ty WXS Việt Nam không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của Công ty 557, vì Chi nhánh 557 là đơn vị phụ thuộc, không có tư cách pháp nhân, Công ty 557 không ủy quyền cho Chi nhánh 557 ký kết hợp đồng với Công ty WXS Việt
Nam nên Công ty 557 không có trách nhiệm với Công ty WXS Việt Nam; Công
ty WXS Việt Nam có lỗi vì khi ký hợp đồng với Chi nhánh 557 không được
Công ty 557 ủy quyền nhưng Công ty WXS vẫn cố tình thực hiện hợp đồng với
Chi nhánh 557 và cũng không thông báo với Công ty 557 nên không làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của Công ty 557; ngoài ra theo Điều 6 của hợp đồng 27
thì “Trường hợp có tranh chấp hợp đồng xảy ra mà hai bên không thống nhất
được thì sẽ đưa ra giải quyết tranh chấp hợp đồng tại Tòa án kinh tế Quảng
Nam”, do đó việc tranh chấp cần theo thỏa thuận này.
Người làm chứng ông Lê Văn Tuấn trình bày: Ngày 26/5/2014, Chi nhánh
557 và Công ty WXS Việt Nam có ký hợp đồng kinh tế số 27/2014/HĐKT về
việc thi công thảm hoàn thiện mặt đường bê tông nhựa công trình: Nâng cấp mở
rộng Quốc lộ 1A từ Km 1004 đến Km 1006, phụ lục hợp đồng số
01/2014/BSHĐ ngày 25/07/2014 và phụ lục hợp đồng số 02/2014/PLHĐ ngày
15/01/2015. Việc Chi nhánh 557 ký hợp đồng với Công ty WXS không có sự ủy
quyền của Công ty 557. Hiện nay Chi nhánh 557 còn nợ Công ty WXS số tiền
2.457.046.286 đồng, trong đó 954.438.970 đồng là tiền bảo hành công trình,
trong số tiền còn lại là 1.467.366.216 đồng chi nhánh 557 sẽ tạm giữ lại số tiền
884.000.000 đồng do bê tông nhựa bị hư hỏng nên chủ đầu tư giữ lại để kiểm tra
chất lượng bê tông nhựa. Chi nhánh 557 đã nhiều lần yêu cầu Công ty WXS
xuất hóa đơn đối với giá trị còn lại nhưng Công ty WXS không chịu xuất hóa
đơn nên Chi nhánh 557 chưa thanh toán được; do Công ty WXS chưa chịu sửa
chữa mặt đường bê tông nhựa bị hư hỏng trong thời gian bảo hành nên Chi
nhánh 557 chưa thanh toán cho Công ty WXS Việt Nam.
Tại bản án số số 85/2018/KDTM-ST ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân
quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Buộc Công ty CP đầu tư và xây dựng CT có trách nhiệm thanh toán cho
Công ty CP WXS Việt Nam số tiền 3.068.236.976 (ba tỷ không trăm sáu mươi
tám triệu hai trăm ba mươi sáu ngàn chín trăm bảy mươi sáu) đồng ngay sau khi
án có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó còn phải trả lãi
đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tương
ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018, bị đơn Công ty CP Đầu tư và Xây dựng CT
kháng cáo toàn bộ bản án số 85/2018/KDTM-ST ngày 26/9/2018 của Tòa án
nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên Toà phúc thẩm:
Ông Nguyễn Đăng V - đại diện bị đơn, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ
thẩm, chuyển đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền của tỉnh Quảng Nam giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, vì những lý do sau:
- Tại Hợp đồng kinh tế số 27/2014/HĐKT ngày 26/5/2014 giữa Chi nhánh
Công ty CP đầu tư và xây dựng CT và Công ty CP WXS Việt Nam quy định: Trường hợp có tranh chấp hợp đồng xảy ra mà hai bên không thống nhất được thì sẽ đưa ra giải quyết tranh chấp hợp đồng tại Tòa kinh tế Quảng Nam, vì vậy vụ án này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận, huyện tỉnh Quảng Nam;
- Ông Lê Văn Tuấn là giám đốc Chi nhánh Công ty 557, nhưng khi ký
Hợp đồng và các phụ lục không được sự ủy quyền của Công ty 557. Vì vậy, cần phải đưa ông Lê Văn Tuấn vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đưa Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam Chi nhánh Hòa Bình phát hành các chứng thư bảo lãnh để bảo lãnh cho chi nhánh Công ty 557 thanh toán cho Công ty WXS Việt Nam;
- Giữa Ông Lê Văn Tuấn và Công ty WXS Việt Nam có thỏa thuận nâng
khối lượng nên cần làm rõ khối lượng chính xác là bao nhiêu.
Bà Phùng Thị Mai – đại diện nguyên đơn đề nghị không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bị đơn vì không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.
Ông Lê Văn Tuấn – Người làm chứng:
- Ông với tư cách là Giám đốc Chi nhánh Công ty 557 là người có trách
nhiệm trong việc ký kết và thực hiện Hợp đồng thi công với Công ty WXS. Khi ký kết Hợp đồng và các phụ lục hợp đồng, ông không thông báo cho đại diện theo pháp luật của Công ty 557 biết, cho đến khi Chi nhánh không thanh toán được nợ thì Công ty thực hiện việc chi trả mới biết việc này. Trong quá trình thực hiện dự án, ông có quen biết với đại diện Công ty WXS nên tiến hành nâng khống khối lượng thực hiện để nâng số tiền phải thanh toán. Thực tế Công ty 557 đã thanh toán đủ tiền cho Công ty WXS.
- Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông không nhận được
bất kỳ Thông báo hoặc Giấy triệu tập của Tòa án nhân dân quận Tân Bình về việc tham gia tố tụng trong vụ án này. Bản tường trình trong hồ sơ là ông gửi báo cáo nội bộ cho Giám đốc Công ty 557, không phải gửi cho Tòa án nhân dân Quận Tân Bình. Việc tòa án Tân Bình đưa ông là người làm chứng trong vụ án nhưng chưa bao giờ triệu tập đến tòa để khai là không đúng tố tụng. Ông yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm đưa ông vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ về khối lượng mà ông và Công ty cổ phần Wei xernn Sin Việt Nam thỏa thuận tăng khối lượng để chia với nhau.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của Bị đơn phát biểu: Vụ án giữa Công ty
557 và Công ty WXS Việt Nam không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án kinh tế tỉnh Quảng Nam nên nguyên đơn có quyền khởi kiện nơi bị đơn có trụ sở tại Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giữa Công ty WXS Việt Nam và Chi nhánh 557 có ký biên bản nghiệm
thu khối lượng, biên bản công nợ rõ ràng nên đề nghị tòa chấp nhận toàn bộ yêu
cầu của Nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa phát biểu:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thẩm
phán thực hiện đúng quy định pháp luật. Và tại phiên tòa, hội đồng xét xử thực
hiện đúng theo trình tự quy định của pháp luật.
Cấp sơ thẩm đưa ông Lê Văn Tuấn vào tham gia trong vụ án với tư cách
là người làm chứng nhưng không triệu tập ông Tuấn đến tòa để trình bày ý kiến,
đối chất nhưng lại có lời trình bày của ông Tuấn trong phần nội dung bản án là
vi phạm tố tụng nên đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số
85/2018/KDTM-ST ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành
phố Hồ Chí Minh; chuyển vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục
chung. Do hủy án về tố tụng nên không có ý kiến về nội dung vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát
biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Công ty Cổ phần WXS Việt Nam ủy quyền cho bà Phùng Thị Mai
(Giấy ủy quyền số 20/2018/GUQ ngày 24/12/2018); Công ty cổ phần đầu tư và
xây dựng CT ủy quyền cho ông Nguyễn Đăng Vỹ (Giấy ủy quyền ngày
02/01/2019), việc ủy quyền này là phù hợp với Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015.
Ngày 19/02/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận
được đơn xin hoãn phiên tòa lúc 08 giờ ngày 20/02/2019 của ông Phạm Văn
Sinh – luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty WXS Việt Nam;
Hội đồng xét xử, xét thấy: vụ án đã mở phiên tòa xét xử vào các ngày
04/01/2019 và ngày 21/01/2019 đã kết thúc phần tranh luận; do vậy với yêu cầu
của luật sư Phạm Văn Sinh không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử tiếp tục
xét xử theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu kháng cáo của Công ty CP đầu tư và xây dựng CT yêu cầu
hủy bản án sơ thẩm, vì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Đăng Vỹ, ông Lê Văn Tuấn cho
rằng tại Điều 6 Hợp đồng kinh tế số 03/2014/HĐKT ngày 10/5/2014 và Hợp
đồng kinh tế số 27/2014/HĐKT ngày 26/5/2014 Giữa Chi nhánh Công ty Cp đầu
tư &XD CT và Công ty CP WXS Việt Nam có thỏa thuận “ ... Trường hợp có
tranh chấp hợp đồng xảy ra mà hai bên không thống nhất được thì sẽ đưa ra giải
quyết tranh chấp hợp đồng tại Tòa án Kinh tế Quảng Nam” nên vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án kinh tế Tỉnh Quảng Nam giải quyết; Hội đồng
xét xử, xét thấy: sự thỏa thuận này là không đúng với quy định của pháp luật, bởi lẽ vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh nên vô hiệu. Công ty CP Đầu tư và Xây dựng CT có trụ sở tại 378 Lê văn Sỹ, Phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, nên Công ty Cổ phần WXS Việt Nam khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình là đúng theo khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên với yêu cầu kháng cáo này của Công ty 557 là không có cơ sở chấp nhận.
Về yêu cầu kháng cáo của Công ty 557 yêu cầu đưa cá Ông Lê Văn
Tuấn và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Hòa Bình vào tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn và ông Lê Văn Tuấn
đều thừa nhận khi ký kết hợp đồng kinh tế số 03/2014/HĐKT ngày 10/5/2014 và Hợp đồng kinh tế số 27/2014/HĐKT ngày 26/5/2014, Chi nhánh công ty 557 không được sự ủy quyền của Công ty 557 như trình bày của đại diện Công ty 557. Mọi hoạt động mua bán, khối lượng, giá cả và các biên bản xác nhận công nợ liên quan đến hai hợp đồng này đều do ông Tuấn và Công ty WXS Việt Nam tự thoản thuận cũng không thông qua Công ty 557. Và tại phiên tòa ông Tuấn xác định không còn nợ Công ty WXS Việt Nam, giữa ông và Công ty WXS Việt Nam có thỏa thuận nâng khối lượng lên để chia tiền với nhau nên Công ty 557 và ông Lê Văn Tuấn yêu cầu cấp phúc thẩm đưa cá nhân ông Tuấn vào tham gia tố tụng để làm rõ vụ án; Hội đồng xét xử xét thấy, phía Công ty 557 không thừa nhận có nợ công ty WXS Việt Nam, vì giữa nguyên đơn và ông Lê Văn Tuấn nguyên là giám đốc chi nhánh 557 tự ký kết hợp đồng và ký các biên bản đối chiếu công nợ không có thông qua Công ty 557, là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như trình bày của Công ty WXS Việt Nam và ông Lê Văn Tuấn tại phiên tòa. Mặt khác, ông Lê Văn Tuấn trình bày thực tế Chi nhánh Công ty 557 không có nợ tiền của Công ty WXS Việt Nam, giữa ông và Công ty WXS Việt Nam thỏa thuận nâng khối lượng để chia tiền với nhau; điều này cho thấy ông Tuấn có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ trong vụ án. Do đó, cần phải đưa ông Tuấn vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ngoài ra, cấp sơ thẩm đưa ông Lê Văn Tuấn với tư cách là người làm chứng nhưng không triệu tập ông Tuấn đến tòa án trình bày ý kiến nhưng trong phần nội dung bản án lại có lời trình bày của ông Tuấn là vi phạm tố tụng nên với yêu cầu kháng cáo này của Công ty 557 là có cơ sở chấp nhận.
Về kháng cáo yêu cầu đưa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập
khẩu Việt Nam vào tham gia tố tụng; hội đồng xét xử, xét thấy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam – Chi nhánh Hòa Bình có cấp chứng thư bảo lãnh cho chi nhánh công ty 557 theo các chứng thư bảo lãnh thanh toán số 1007GTA140800039 ngày 18/8/2014, số tiền bảo lãnh 2.430.000.000 đồng, hiệu lực từ 18/8/2014 đến 16/10/2014; thư bảo lãnh số 107GTA141000046 ngày 13/10/2014, số tiền 2.430.000.000 đồng, thời hạn từ ngày 13/10/2014 đến 11/12/2014; thư bảo lãnh số 1007GTA141100052 ngày 18/11/2014, số tiền 2.497.050.000 đồng, hiệu lực từ ngày 18/11/2014 đến ngày 16/01/2015; thư bảo lãnh số 1007GTA150200009 ngày 05/02/2015, số tiền 1.350.000.000 đồng, hiệu lực từ 05/02/2015 đến 05/4/2015; thư bảo lãnh số
1007GTA150300021 ngày 27/3/2015, số tiền 1.489.599.000 đồng, thời hạn từ
ngày 27/3/2015 đến 25/4/2015 là đã hết hạn. Hơn nữa, vụ án này nguyên đơn
khởi kiện bị đơn đòi thanh toán tiền thi công còn thiếu, không liên quan đến
Ngân hàng. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo phần này của Công ty 557 là không có cơ
sở chấp nhận.
Từ nhận định trên, hội đồng xét xử, xét thấy yêu cầu kháng cáo của
Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng CT; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là
có sơ sở chấp nhận nên cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 85/2018/KDTM
– ST ngày 26 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố
Hồ Chí Minh; chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án nhân dân quận Tân Bình giải quyết
lại vụ án theo thủ tục chung.
Việc hủy án sơ thẩm, do có tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc
thẩm nên cấp sơ thẩm không có lỗi.
Về nội dung: Tòa cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm về tố tụng nên hội
đồng xét xử không xem xét phần nội dung.
Về án phí phúc thẩm: Do hủy toàn bộ bản án sơ thẩm nên Công ty Cổ
phần Đầu tư và Xây dựng CT không phải chịu án phí phúc thẩm nên được hoàn
lại 2.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310; Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015;
Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án ngày 27/02/2009 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy bán thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần Đầu tư và xây dựng CT .
2. Hủy bản án sơ thẩm số 85/2018/KDTM – ST ngày 26 tháng 9 năm
2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về việc
tranh chấp hợp đồng thi công, giữa: Nguyên đơn Công ty Cổ phần WXS Việt
Nam và bị đơn Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng CT.
3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố
Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục chung.
4. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng CT không phải chịu, nên được hoàn
lại 2.000.000 (hai triệu) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0037165 ngày
15/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Tối cao;
- TAND cấp cao TP.HCM;
- VKSND cấp cao TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Q.Tân Bình;
- Chi cục THADS Q.Tân Bình;
- Các đương sự;
- Lưu
Nguyễn Thị Trinh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Tối cao;
- TAND cấp cao TP.HCM;
- VKSND cấp cao TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Q.Tân Bình;
- Chi cục THADS Q.Tân Bình;
- Các đương sự;
Nguyễn Thị Trinh
- Lưu HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao TP.HCM; - VKSND cấp cao TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TAND H.Nhà Bè; - Chi cục THADS H. Nhà Bè; - Các đương sự; - Lưu HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Thu Chinh Hà Thanh Thủy | Nguyễn Thị Trinh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Nguyễn Thị Trinh |