- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Quang T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 - phạm tội tàng trữ trái phép c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số:116/2019/HSST Ngày: 28-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Hữu Luân
Nghề nghiệp: Phó Hiệu trưởng trường tiểu học Lam Sơn phường 2, quận Bình Thạnh.
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí quận Bình Thạnh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2019/TLST-HS ngày 16/7/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/QĐXX ngày 14/8/2019 đối với bị cáo:
Bùi Quang T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1990, Tại: Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký HKTT: S đường M, Khu phố B, Khu dân cư H, phường HB, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Họ tên cha: Bùi Quang X và mẹ: Nguyễn Thị Y; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/02/2019. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 19/02/2019, Đội cảnh sát hình sự - Công an Quận Thủ Đức tiến hành kiểm tra hành chính Bùi Quang T thì phát hiện trên người T có 01 khẩu súng ngắn màu trắng bạc hiệu ZORAKI 2914-TD, 01 hộp tiếp đạn và 02 viên đạn đầu đạn bằng cao su. Tiếp đó Công an Quận Thủ Đức kết hợp với Công an Quận Bình Thạnh tiến hành khám xét nơi ở của T tại căn hộ số M – D Chung cư Đ tại H đường X, phường H, quận B thì phát hiện và thu giữ tại hộc bàn ở đầu giường trong phòng ngủ của T có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu nghi vấn là ma túy, 01 bình thủy tinh có gắn 02 ống thủy tinh, 01 hộp quẹt gas nên đã mời T về trụ sở để làm việc.
Tại cơ quan điều tra, Bùi Quang T khai nhận số tinh thể rắn không màu công an thu giữ tại nhà của T là ma túy T mua của 01 người thanh niên tên Đ (không rõ lai lịch) vào tháng 10/2018. Sau khi mua về T sử dụng được 02 lần, số ma túy còn lại T cất giấu trong hộc bàn ở đầu giường phòng ngủ để dành sử dụng tiếp thì bị công an phát hiện và thu giữ như trên
Tại Kết luận giám định số 590/KLGĐ-H ngày 28 tháng 02 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Quang T và hình dấu Công an phường 21, Quận Bình Thạnh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,4895g loại Methamphetamine.
Đối với khẩu súng thu giữ trên người của T: Theo kết luận giám định số 476/KLGĐ-TT ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh:
- Khẩu súng ngắn hiệu ZORAKI 2914, có số súng 0918-000724 gửi giám định là loại súng sử dụng đạn cao su, đạn hơi cay, đạn nổ uy hiếp 9mm, nòng súng không có đường khương tuyến, các bộ phận của súng còn đầy đủ và hoạt động bình thường, súng do Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất.
- Hai (02) viên đạn có cùng ký hiệu Walther 9mm P.A.Knall gửi giám định là loại đạn sử dụng cho khẩu súng ngắn gửi giám định.
Căn cứ theo quy định tại Điểm a, Khoản 11, Điều 3 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 20/06/2017 thì khẩu súng ngắn hiệu ZORAKI 2914 và đạn gửi giám định thuộc nhóm công cụ hỗ trợ.
Công an thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 1242/QĐ-CQĐT ngày 30/05/2019 đối với T về hành vi “Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” quy định tại Điểm c, Khoản 5, Điều 10 Nghị định 17/2013/NĐ-CP và hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính gồm: 01 khẩu súng ngắn hiệu ZORAKI 2914 có số súng 0918-000724, 01 hộp tiếp đạn và 02 viên đạn theo quy định tại Điểm a, Khoản 8, Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSBTh ngày 10/07/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Bùi Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
- Về vật chứng: 01 bình thủy tinh có gắn 02 ống thủy tinh, 01 hộp quẹt gas, 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,4895g loại Methamphetamine là chứng cứ vụ án không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
* Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, cũng những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Quang T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản khám xét, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng là ma tuý thu giữ của bị cáo và phù hợp với kết luận của tổ chức giám định kỹ thuật hình sự về chất ma tuý thu được của bị cáo, Hội đồng xét xử, nhận thấy: Bị cáo Bùi Quang T là người đã trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân thì bị kiểm tra bắt giữ cùng tang vật là ma túy, số ma tuý thu giữ của bị cáo theo kết luận giám định số 590/KLGĐ – H ngày 28/02/2019 kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma tuý ở thể rắn, có tổng khối lượng là 1,4895gam, loại Methampheamine.
Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Quang T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo tàng trữ ma túy có tổng khối lượng là 1,4895gam, loại Methamphetamine, thuộc trường hợp tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ, động cơ, mục đích hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Bùi Quang T đủ khả năng nhận thức ma tuý là chất gây nghiện, người sử dụng sẽ bị huỷ hoại cả thể chất lẫn tinh thần, ai vi phạm sẽ bị Nhà nước xử lý nghiêm khắc, nhưng để thoả mãn ham muốn của bản thân, bị cáo vẫn bất chấp mua ma tuý về sử dụng, điều này gây tác hại rất lớn cho xã hội. Xét hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh, phát triển các tệ nạn xã hội khác của xã hội nên cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu; trong quá trình công tác trước đây tại Phòng cảnh sát giao thông công an Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc và được tặng nhiều giấy khen; ngoài ra cha, mẹ của bị cáo trong quá trình công tác được Chủ tịch nước tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.
Về xử lý vật chứng:
- 01 bình thủy tinh có gắn 02 ống thủy tinh, 01 hộp quẹt gas, 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,4895g loại Methamphetamine là chứng cứ vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Quang T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 gói niêm phong ghi số 590/2019 Q.Bình Thạnh có chữ ký giám định viên Phan Tấn Quốc và Cán bộ điều tra Phạm Trương Hòa Thật, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 1,2263 gam; 01 bình thủy tinh có gắn 02 ống thủy tinh; 01 hộp quẹt gas màu vàng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND TP. HCM; - VKSND Q-Bình Thạnh; - CQTHA DS Q. BTh; - Trại giam; - THA HS; - Phòng PV 06 - CA TP.HCM; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Những người tham gia TT; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |