- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2019/HS-ST Ngày 25-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Ông Nguyễn Trọng Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2019/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn T (tên gọi khác: X), sinh năm: 1990 tại Kiên Giang; đăng ký thường trú: ấp Đ, xã VP, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn M và bà Ngô Thị BS; bị cáo có vợ là Phạm TA và 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 110/2015/HSST ngày 10/6/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/3/2019 - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 01 giờ ngày 16/3/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Bến Cát phối hợp với Công an phường MP kiểm tra hành chính đối tượng Huỳnh Văn T đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu cam đen, biển số 61G1 – 449.98 phía trước nhà trọ NT, đường XC, khu phố K, phường MP, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì phát hiện trên xe 61G1 – 449.98 có: 03 bịch nylon hàn kín, 01 cuộn giấy báo được cuốn băng keo bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể giấu trong cục sạc điện thoại hiệu Samsung để ở khu vực bình xăng xe, 02 bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể trong cán dao bằng inox để ở hộc đựng đồ bên phải của xe 61G1 – 449.98. T khai nhận chất màu trắng dạng tinh thể là ma túy đá nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ tang vật gồm:
- 05 bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể;
- 01 cuộn giấy báo được cuốn băng keo bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể;
- 01 cục sạc điện thoại hiệu Samsung;
- 01 con dao inox màu trắng quấn xung quanh băng keo màu đen;
- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 61G1 – 449.98;
- 01 điện thoại di động hiệu Neoson màu vàng đồng gắn sim số 0865.042469.
Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Huỳnh Văn T khai nhận: T nghiện ma túy từ đầu năm 2018. T có quen biết B, O và không rõ nhân thân lai lịch của hai người này. Khoảng 23 giờ ngày 15/3/2019, B gọi điện thoại kêu T đến trạm xe buýt cạnh đường Quốc lộ 13 phía trước trường tiểu học MP thuộc khu phố K, phường MP để lấy xe 61G1 – 449.98 mang ma túy giao cho các đối tượng nghiện giúp B, chìa khóa xe B để bên cột điện gần trạm xe buýt. T đồng ý. Sau đó, T nhờ O (không rõ lai lịch) chở T đến trạm xe buýt. Đến nơi, O điều khiển xe đi về. T lấy chìa khóa khởi động máy rồi điều khiển xe 61G1 – 449.98 chạy đi. Lúc này, T gọi điện thoại báo cho B biết đã lấy được xe, B nói với T việc cất giấu ma túy trong cục sạc điện thoại và trong cán dao để trong xe 61G1 – 449.98 nhưng không nói giao ma túy cho ai. T điều khiển xe 61G1 – 449.98 chạy lòng vòng chờ B liên lạc lại. Khoảng 01 giờ ngày 16/3/2019, khi T điều khiển xe 61G1 – 449.98 đến phía trước nhà trọ NT thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. T khai: Khoảng 01 giờ ngày 14/3/2019, T đã giúp B giao ma túy 01 lần cho một người đàn ông không rõ lai lịch tại phía trước ký túc xá công ty CF thuộc khu phố G, phường CPH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. T giao ma túy cho B, không nhận tiền của người mua và được B cho ma túy để sử dụng. B sử dụng nhiều số điện thoại gọi cho T, B dặn sau khi nghe xong thì xóa số điện thoại nên T không nhớ chính xác số điện thoại của B.
Ngày 16/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định trưng cầu giám định số 107, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương giám định thành phần và khối lượng chất màu trắng dạng tinh thể thu giữ được niêm phong: 03 bịch nylon hàn kín chứa chất màu trắng dạng tinh thể (ký hiệu M1), 02 bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (ký hiệu M2) và 01 cuộn giấy báo được cuốn băng keo bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (ký hiệu M3).
Theo Kết luận giám định số 243/MT-PC09 ngày 19/3/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: M u tinh thể gửi giám định đều là ma tuý, có khối lượng: 3,7839 gam (M1), 0,3142 gam (M2), 0,4783 gam (M3), loại Methamphetamine; tổng cộng: 4,5764 gam. M u vật sau giám định được niêm phong, khối lượng: 3,4293 gam (M1); 0,1868 gam (M2); 0,3804 gam (M3); tổng cộng: 3,9965 gam.
Quá trình điều tra không xác định được đối tượng tên B và đối tượng nhận ma túy tại phía trước ký túc xá công ty CF.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 61G1 – 449.98, số máy: JF27E0273283, số khung: RLHJF1809AY232905: Kết quả điều tra xác định biển số 61G1 – 449.98 là của xe hiệu Honda Future II, màu đỏ đen, do ông Huỳnh VH, sinh năm: 1973; đăng ký thường trú: khu phố K, phường TH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đứng tên sở hữu. Hiện Ông VH v n đang quản lý sử dụng xe hiệu Honda Future II, biển số 61G1 – 449.98. Xác minh theo số máy: số máy: JF27E0273283, số khung: RLHJF1809AY232905 không tìm thấy tên chủ sở hữu trên cơ sở dữ liệu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đăng báo tìm chủ sở hữu, đến nay không có người đến nhận.
Bản Cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 04/7/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.
Tại phần tranh luận:
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trình bày luận tội:
+ Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 124/CT-VKSBC ngày 04/7/2019 đối với bị cáo Huỳnh Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo T từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với các m u vật còn lại sau giám định và các công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 61G1 – 449.98, số máy: JF27E0273283, số khung: RLHJF1809AY232905; 01 điện thoại di động.
- Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 01 giờ ngày 16/3/2019, Huỳnh Văn T có hành vi cất giấu 03 bịch nylon hàn kín chứa chất màu trắng dạng tinh thể (ký hiệu M1), 02 bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (ký hiệu M2) và 01 cuộn giấy báo được cuốn băng keo bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (ký hiệu M3) thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số 243/MT-PC09 ngày 19/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương: M u tinh thể gửi giám định đều là ma tuý, có khối lượng: 3,7839 gam (M1), 0,3142 gam (M2), 0,4783 gam (M3), loại Methamphetamine; tổng cộng: 4,5764 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy bị cấm sản xuất, sử dụng, tàng trữ, vận chuyển và mua bán ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Bị cáo Huỳnh Văn T khai ma túy và xe mô tô biển số 61G1 – 449.98 là của đối tượng tên B. T nhận xe, bên trong có ma túy là để đi giao cho người mua theo yêu cầu của B. T đã đi giao ma túy cho B 01 lần vào ngày 14/3/2019, giao cho người đàn ông không rõ nhân thân phía trước ký túc xá Công ty CF. Quá trình điều tra không xác định được đối tượng tên B và đối tượng nhận ma túy do T giao vào ngày 14/3/2019. Do đó, không có đủ chứng cứ xác định số ma túy bị cáo T cất giữ là nhằm mục đích mua bán. Hành vi tàng trữ trái phép 4,5764 gam ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản Cáo trạng số 124/CT-VKSBC ngày 04/7/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo T với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) của bị cáo là hết sức nguy hiểm, không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma tuý mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương.
Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nghề nghiệp, có sức khỏe nhưng không chí thú làm ăn. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với con người và xã hội, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng v n cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ thiếu ý thức, liều lĩnh, xem thường pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng nên có cơ sở chấp nhận.
Về vật chứng:
- Kết quả điều tra xác định tổng trọng lượng ma túy (Methamphetamine) thu được là 3,7839 gam (M1), 0,3142 gam (M2), 0,4783 gam (M3); sau giám định còn lại 3,4293 gam (M1); 0,1868 gam (M2); 0,3804 gam (M3). Tổng cộng: 3,9965 gam. Cơ quan giám định niêm phong, hoàn trả Cơ quan điều tra. Do đó cần tịch thu tiêu hủy trọng lượng ma túy còn lại này.
- Đối với phương tiện phạm tội là 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu cam đen, biển số 61G1 – 449.98, số máy: JF27E0273283, số khung: RLHJF1809AY232905: Qua điều tra xác minh biển số 61G1 – 449.98 được cấp cho xe mô tô hiệu Honda Future II, màu đỏ đen, chủ sở hữu là ông Huỳnh VH, ông VH đang quản lý, sử dụng xe. Tra cứu theo số máy: JF27E0273283, số khung: RLHJF1809AY232905 đều không có thông tin, cũng không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan Công an thị xã Bến Cát đã thông tin tìm chủ sở hữu nhưng không có người đến nhận. Do đó, cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với xe mô tô trên.
- Điện thoại di động dùng làm phương tiện phạm tội: Cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
- 01 (một) sim điện thoại số 0865.042469: Cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với các vật dụng dùng cất giấu ma túy không có giá trị sử dụng: Cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2019.
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì thư được niêm phong ghi số 243/PC09 có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa 3,9965 gam Methamphetamine;
+ 01 (một) biển số xe 61G1 – 449.98.
+ 01 (một) cục sạc điện thoại hiệu Samsung màu trắng;
+ 01 (một) con dao inox màu trắng quấn xung quanh bằng băng keo màu đen;
+ 01 (một) sim số 0865.042469.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade màu cam đen, số máy: JF27E0273283, số khung: RLHJF1809AY232905;
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Neoson màu vàng đồng.
(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2019).
3. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân |