vanban.org

Bản án 116/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 29/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!PHÚ!QUỐC!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!-!Tự!do!-!Hạnh!phúc!
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 116/2019/HS-ST
Ngày: 29/10/2019

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!PHÚ!QUỐC!–!TỈNH!KIÊN!GIANG!

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!

Thẩm"phán"–"Chủ"toạ"phiên"tòa: Ông!Trương!Quốc!Triều!

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"

!

!

1/!Ông!Ngô!Rạng!Đông!

!

!

2/Ông!Dương!Tấn!Đấu!!

-Thư ký phiên tòa: Bà! Nguyễn! Hồng! Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông!Nguyễn!Xuân!Vinh!- Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Huỳnh!N,!sinh năm: 1995, tại: P, Kiên Giang; Nơi cư trú: tổ 7, khu phố C, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh P và bà Bùi Thị C; Bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 26/6/2019 (có mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/6/2019 Huỳnh Nh đang ở khu phố 1, thị trấn An Thới thì có người tên T liên hệ với N qua mạng xã hội hỏi mua 500.000đ ma túy thì N đồng ý và hẹn địa điểm mua bán ma túy tại quán cà phê Ôri ở khu phố 4, thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 50YB-1645 mang theo 04 gói ma túy chạy đến điểm hẹn gặp T đang ở trong quán cà phê. Khi gặp N T đưa cho N 500.000đ, Nh đưa cho T một gói ma túy, T lấy ma túy rồi đi về còn N ngồi lại quán cà phê Ôri. Đến khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 26/6/2019, lực lượng Bộ tư lệnh vùng Cảnh sát Biển 4 phối hợp với Công an thị trấn An Thới tiến hành kiểm tra đối tượng Huỳnh N phát hiện bắt quả tang N đang cất giấu 03 gói ma túy để bán lại cho các con nghiện. N khai nhận số ma túy trên N mua của một người phụ nữ tên H tại thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc với giá 1.200.000đ.

Vật chứng thu giữ:"03 gói ny lon màu trắng, hàn kín; trong đó có 02 gói có kích thước 0,8 cm x 03 cm và 01 gói có kích thước 1,5 cm x 03 cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất; tiền Việt Nam 500.000đ; 01 điện thoại di động hiệu samsung, màu xanh đen, số model:SM-G610F/DS, số Imei: 353415/08/8762219; số Imei 2: 353416/08/6221/7; một xe mô tô hiệu Hoda, màu xanh, biển số đăng ký 50YB-1645, số máy: C50E.5091943, số khung: C505092053."

Tại bản Kết luận giám định về hóa chất số 396/KL-PY ngày 01/7/2019 của trung tâm pháp y sở y tế tỉnh Kiên Giang kết luận:

Mẫu các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất có tổng khối lượng là 0,5102 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định về hóa chất số 396/KL-PY ngày 01/7/2019 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh Kiên Giang.

Bản cáo trạng số 119/CT-VKSPQ ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố bị cáo Huỳnh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất của vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Huỳnh N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,9643 gam Methamphetamine bao gồm bịch ny lon và mẫu; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu samsung, màu xanh đen, số model:SM-G610F/DS, số Imei: 353415/08/8762219; số Imei 2: 353416/08/6221/7 và 500.000đ.

Đối với xe mô tô hiệu Hoda, màu xanh, biển số đăng ký 50YB-1645, số máy: C50E.5091943, số khung: C505092053, Huỳnh N mượn của ông Huỳnh Văn H, ông H không biết bị cáo sử dụng vào việc đi bán ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông H."

Đối với người tên H chưa xác định được nhân thân, khi nào làm rõ nhân thân, nơi cư trú sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố và lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên"cơ"sở"nội"dung"vụ"án,"căn"cứ"vào"các"tài"liệu"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã" được"tranh"tụng"tại"phiên"tòa,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"định"như"sau:!

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá chứng cứ: vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/6/2019 tại quán cà phê Ô Ri thuộc khu phố 4, thị trấn An Thới, tổ công tác thuộc Bộ Tư Lệnh vùng cảnh sát biển 4 phối hợp cùng với Công an thị trấn An Thới phát hiện Hùynh N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra thì phát hiện trong cái ví để trong cái túi xách màu đen N đeo trên người có 03 gói ni lon màu trắng, hình chữ nhật chứa các hạt tinh thể không đồng nhất. N khai đó là ma túy N mua về để bán cho các con nghiện. Trước đó, khoảng 10 giờ 30 phút N bán cho T một bịch ma túy với giá 500.000đ tại quán cà phê Ôri.

Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Kiên Giang đã kết luận các hạt tinh thể rắn không đồng nhất chứa trong ba bịch ma túy thu giữ trên người Huỳnh N là ma túy loại Methamphetamine có trọng lượng 0,5102 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ những căn cứ nêu trên HĐXX đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Huỳnh N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do hám lợi mà bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,9643 gam Methamphetamine bao gồm bịch ny lon và mẫu; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu samsung, màu xanh đen, số model:SM-G610F/DS, số Imei: 353415/08/8762219; số Imei 2: 353416/08/6221/7 và 500.000đ.

[6] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

1.Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh N 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/6/2019.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,9643 gam Methamphetamine bao gồm bịch ny lon và mẫu; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu samsung, màu xanh đen, số model:SM-G610F/DS, số Imei: 353415/08/8762219; số Imei 2: 353416/08/6221/7 và 500.000đ (đang tạm giữ tại kho bạc Nhà nước huyện Phú Quốc)

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc số 74/QĐ-VKS-PQ ngày 01/10/2019)

3.Về án phí căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ