- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2019/HS-ST Ngày: 05-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Đức Thọ
2/ Bà Đinh Thị Phúc
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 25 tháng 01 năm 1997; nơi sinh: Ninh Thuận; nơi ĐKNKTT: Đá Bắn, H, N, Ninh Thuận; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Triệu L, con bà: Nguyễn Thị Ngọc Lan; Gia đình có 03 anh em, lớn nhất bị cáo, nhỏ sinh năm 2001; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Triệu L, sinh năm 1974
Trú tại: Đá Bắn, H, N, Ninh Thuận. Có mặt
- Chị Phạm Nguyễn Diệu H, sinh năm 2001
Trú tại: Tổ 9, Nguyễn Đình Chiểu, phường 9, Đ, Lâm Đồng. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 13/3/2019, tổ công tác liên ngành 141 Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng kiểm tra xe mô tô biển số: 37D1–000.61 (xe chưa xác định chủ sở hữu) tại khu vực Quốc lộ 20 thuộc Tổ 1, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xe do bị cáo Nguyễn Tấn Đ điều khiển chở theo Phạm Nguyễn Diệu H, sinh năm 2001, Hộ khẩu thường trú: Tổ 9, Nguyễn Đình Chiểu, Phường 9, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng theo hướng từ Bình Thuận về thành phố Đ. Quá trình kiểm tra thu giữ 01 (một) gói ni lon bên trong có 24 gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp trong túi quần bên trái phía trước Nguyễn Tấn Đ đang mặc và 01 bình nhựa là dụng cụ sử dụng ma túy. L lượng Công an đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tấn Đ và niêm phong toàn bộ số chất nghi là ma túy trên trong 01 phong bì màu trắng dán kín để đưa đi giám định.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Đ khai nhận số ma túy trên bị cáo mua của một người đàn ông tên Phương (không r nhân thân lai lịch) tại khu vực chợ Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận vào ngày 11/3/2019 với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) về sử dụng thì bị bắt.
Theo kết luận giám định số: 742/GĐ – PC09 ngày 16/3/2019 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: M u tinh thể đựng trong 24 (hai mươi bốn) gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 7,1019g (bảy phẩy một không một chín gam) loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy n m trong Danh mục II, STT: 323, nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 24 (hai mươi bốn) gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
- 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius màu trắng đen biển số: 37D1–000.61.
- 01 (một) đăng ký xe biển số 37 D1 – 000.61 mang tên Lương Su Đam, sinh năm 1993, địa chỉ: Pà Tý, Yên Tỉnh, Tương Dương.
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu đen (bể màn hình) hiệu HUAWEI.
- 01 (một) bình nhựa cuốn băng keo đen ở cổ chai (bình) phía trên có gắn 02 ống là dụng cụ để sử dụng ma túy.
- 12.280.000đ (mười hai triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng).
Quá trình điều tra bị cáo Đ đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự.
Đối với người đàn ông tên Phương (không r lai lịch) bán ma túy cho Nguyễn Tấn Đ, do không biết r nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lý trong vụ án này cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý sau. Riêng Phạm Nguyễn Diệu H là người đi cùng nhưng không biết việc bị cáo Đ tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý đối với Phạm Nguyễn Diệu H trong vụ án này.
Tại bản Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 02 tháng 7 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đ truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tấn Đ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự 2015 để xét xử bị cáo từ 05 đến 06 năm tù. Về tang vật của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy r ng trong quá trình điều tra, truy tố điều tra viên, kiểm sát viên đ thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tấn Đ đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đ truy tố, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy nên vào ngày 11/3/2019 bị cáo có mua ma túy của một người đàn ông tên Phương tại khu vực chợ Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận với giá 5.000.000đ để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 22 giờ ngày 13/3/2019 bị cáo Đ điều khiển xe chở theo chị Nguyễn Diều H trên Quốc lộ 20 theo hướng Bình Thuận đi Đ thì bị tổ công tác liên ngành 141 Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng kiểm tra hành chính và thu giữ số ma túy trong túi quần trước bên trái bị cáo đang mặc, Công an huyện Đ đ lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và niêm phong số ma túy thu giữ của bị cáo gửi giám định. Tại kết luận giám định số 742/GĐ-PC09 ngày 16/3/2019 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận số ma túy trên có khối lượng là 7,1019gam, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy n m trong Danh mục II, STT: 323, nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tấn Đ: Bị cáo nhận thức r hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, không những thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, ổn định tại địa phương mà còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một bản án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới thoả đáng.
Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để xem xét giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi x hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về tang vật của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng gồm: Số ma túy đựng trong 02 phong bì niêm phong số 172/2019 có đóng dấu của phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng; 01 bình nhựa là dụng cụ sử dụng ma túy là có căn cứ.
Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen đ bể màn hình bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công qu nhà nước là có căn cứ.
Đối với xe mô tô biển số 37 D1 – 000.61 và đăng ký xe biển số 37 D1 – 000.61 đứng tên Lương Su Đam Cơ quan điều tra đ có quyết định ủy thác đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Nghệ An để xác minh được xử lý sau và số tiền 12.280.000đ là khoản tiền bị cáo làm thuê mà có, Cơ quan điều tra đ trả lại cho ông Nguyễn Triệu L là bố. Tại phiên tòa bị cáo, ông Triệu không thắc mắc, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tấn Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam/tạm giữ ngày 13/3/2019.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong 02 phong bì niêm phong số 172/2019 có đóng dấu của phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng; 01 bình nhựa là dụng cụ sử dụng ma túy. Tịch thu sung công qu nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen đ bể màn hình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - THA huyện Đ; - Bị cáo; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thanh Long |