- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Dụng A bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a, Khoản…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Dụng A, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2019/HS-PT Ngày 10 - 4 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Phương
Các Thẩm phán:
Bà Võ Thị Thanh Phượng
Bà Bùi Kim Rết
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Dụng A; do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Dụng A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 476/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Dụng A, sinh năm 1988, tại: Bến Tre.
Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã Ph, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: khu phố 5, phường B1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Dụng Th, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Bé B2, sinh năm 1967; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có đại diện hợp pháp của người bị hại nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Khoảng 21 giờ ngày 19/4/2018, Nguyễn Dụng A có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 60K5 - 8116 lưu thông trên đường Huỳnh Văn Nghệ theo hướng huyện V đi hướng ngã tư B1. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu phố 1, phường B1, thành phố B, A vừa điều khiển xe mô tô biển số 60K5 - 8116 vừa quay mặt nhìn về phía bên trái đường để tìm cửa hàng bán rau củ. Do A không chú ý quan sát phía trước nên đã để xe mô tô biển số 60K5 - 8116 đụng vào người ông Trương Văn L - sinh năm 1969, thường trú tại khu phố 2, phường H, thành phố B đang đi bộ từ lề trái sang lề phải theo hướng xe A lưu thông, gây tai nạn giao thông. Hậu quả: ông Trương Văn L bị thương được đưa đi cấp cứu, sau đó tử vong tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông của Công an thành phố B đã thu thập được các dấu vết như sau: Tất cả dấu vết đều được đo vào mép đường nhựa bên phả i theo hướ ng đi ngã tư C1, mốc là trụ điện số 03/2.
- (1) là vị trí bộ hành ngã tư thế nằm sấp, đầu hướng đi ngã tư C1. Đầu nạn nhân cách mép đường là 06m20 và cách trụ điện số 03/2 làm mốc là 09m15.
- (2) là vị trí xe mô tô biển số 60K5 - 8116 nằm ngã nghiêng về bên trái, đầu xe hướng đi ngã tư B1, trục bánh sau cách mép đường là 05m40, trục bánh trước cách mép đường là 04m70 và cách đầu nạn nhân là 01m55.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 120/TT/2018 ngày 09/5/2018 của Giám định viên Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Đồng Nai kết luận nguyên nhân tử vong của ông Trương Văn L là do đa chấn thương:
- Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh hai bên và thái dương trái lượng nhiều, dập não thùy thái dương trái; chảy máu màng mềm hai bán cầu đại não, tiểu não; dập xuất huyết cầu não.
- Chấn thương ngực gây gãy xương sườn, dập phổi hai bên, chảy máu khoang ngực.
- Chấn thương bụng gây vỡ lớp áo trong tĩnh mạch trên gan, vỡ đuôi tụy, chảy máu.
- Kết hợp gãy 1/3 giữa xường cẳng chân phải.
Về trách nhiệm Dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Dụng A đã bồi thường chi phí mai táng cho gia đình ông Trương Văn L với số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp cho bị hại bà Trương Thị Kim T đã làm đơn bãi nại cho A.
Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển số 60K5 - 8116 của A, hiện Cơ quan điều tra đang thu giữ.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 476/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, đã quyết định như sau:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dụng A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng vào điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm b điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 8, Điều 32 Luật giao thông đường bộ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Dụng A 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
3. Kháng cáo: Ngày 04/12/2019 bị cáo Nguyễn Dụng A kháng cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án, kết luận cấp sơ thẩm giải quyết là có cơ sở và phù hợp; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với mô tả và nhận định trong bản án của cấp sơ thẩm.
Khoảng 21 giờ ngày 19/4/2018, tại đường Huỳnh Văn Nghệ thuộc khu phố 1, phường B1, thành phố B, Nguyễn Dụng A điều khiển xe mô tô BKS 60K5 – 8116 không chú ý quan sát phía trước nên đã để xe mô va chạm vào người ông Trương Văn L đang đi bộ qua đường, hậu quả làm ông Lem bị thương sau đó tử vong tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai.
Như vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Cấp sơ thẩm xác định bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho người bị hại; đại diện người bị hại đơn có đơn bãi nại cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; bị hại ông Trương Văn L cũng có lỗi khi tham gia giao thông theo quy định tại các điểm b điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, nhận thấy:
- Hiện trường tai nạn giao thông cho thấy, bị cáo chạy xe mô tô lưu thông trên làng đường hỗn hợp (mô tô được phép lưu thông), tốc độ không vượt quá tốc độ cho phép, bị cáo nghỉ rằng chạy gần dãi phân cách và phía trước không có vật cản gì nên chủ quan nhìn quan sát qua phía trái đường để tìm cửa hàng bán rau củ thì bất ngờ người bị hại bước qua dãi phân cách cứng (Nơi không được phép qua đường) để sang đường, dẫn đến xe mô tô bị cáo đang điều khiển va đụng làm người bị hại té ngã xuống đường, xe mô mô của bị cáo ngã về bên trái. Sau tai nạn, bị cáo tích cực đưa bị hại đi bệnh viện cấp cứu, sau đó quay trở lại hiện trường vụ tai nạn trình bày rõ với Công an. Khi đến bệnh viện thì bị hại còn tỉnh, bị cáo có hỏi tên địa chỉ của bị hại và chính bị cáo về nhờ thông báo tin tức cho gia đình bị hại. Cấp sơ thẩm không nhận định rõ tình tiết này mà chỉ nêu người bị hại cũng có lỗi khi tham gia giao thông trong tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
- Sau tai nạn bị cáo tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường hoàn toàn cho gia đình bị hại và gia đình bị hại bãi nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện gia đình bị hại không có kháng cáo nhưng khi biết có xét xử phúc thẩm theo kháng cáo của bị cáo thì đại diện hợp pháp của bị hại có đơn gửi đến Tòa đề nghị xem xét là người bị hại qua đường bất cẩn nơi không được phép qua đường, bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại, mong muốn đừng xét xử bị cáo tù tội gì vì gia đình bị cáo cũng khó khăn.
Trên cơ sở những tình tiết nêu trên, kết hợp bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết xử phạt hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
Xét quan điểm của đại diện của Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là không có cơ sở, nên không được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Dụng A, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
1. Quyết định hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Dụng A 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Giao bị cáo Nguyễn Dụng A cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện C, tỉnh Bến Tre giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Dụng A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ (PV27) - Công an tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Vũ Thế Phương |