vanban.org

Bản án 116/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Mẫn V và anh Nguyễn Quốc Th.

Về nuôi con chung: chị Trần Mẫn V được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Mẫn Ng (nữ), sinh ngày 16 tháng 3 năm 2017 cho đến khi cháu Ngđủ 18 tuổi hoặc khi chị V, anh Th có yêu cầu khác. Anh Nguyễn Quốc Thchưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho an… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Mẫn V yêu cầu xin ly hôn với Nguyễn Quốc Th."
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Mẫn V và anh Nguyễn Quốc Th.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:116/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 4 - 2019
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Tự;

2. Bà Thái Vinh Hoa.

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2019/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-HN, ngày 27 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2019/QĐST-HN, ngày 18 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Trần Mẫn V, sinh năm 1997.

Địa chỉ: số 15/15, Hoàng Văn Th, phường H, quận K, thành phố Cần Thơ.

2.Bị đơn: Nguyễn Quốc Th, sinh năm 1997.

Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Trần Mẫn V (sau đây gọi chị V) trình bày: giữa chị và bị đơn Nguyễn Quốc Th (sau đây gọi anh Th) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2017, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Th không chịu lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên hay cải vã nhau, đã nhiều lần hoà giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Về hôn nhân: xin ly hôn với anh Th.

-Về con chung: có một con chung tên Nguyễn Trần Mẫn Ng, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2017, từ khi ly thân đến nay cháu Ng sống với chị, nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung, chưa yêu cầu anh Thcấp dưỡng;

-Về nợ và tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Quốc Thạnh vắng mặt nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1, Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Quốc Th được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với anh Th.

Xét về quan hệ hôn nhân: chị V và anh Th qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới đời sống chung như vợ chồng vào năm 2017, có đăng ký kết hôn ngày 09 tháng 6 năm 2017 Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị V, Hội đồng xét xử xét thấy: sau khi kết hôn, chị Vy và anh Th chung sống một thời gian không lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống mà vợ chồng không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà đã sống ly thân từ năm 2017. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tạo điều kiện để anh, chị được đoàn tụ nhưng anh Th không đến để hòa giải đoàn tụ, từ đó xác định anh Th cũng không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này; xét thấy thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay, chị V xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Th và cương quyết xin ly hôn; từ đó thấy rằng hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V.

Về con chung: có một người con chung, xét từ khi ly thân đến nay cháu Ng do chị V nuôi dưỡng, đồng thời cháu Ng chưa được 36 tháng tuổi, xét yêu cầu được nuôi con chung của chị V là chính đáng, theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình có căn cứ giáo cháu Ng cho chị V được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị V, anh Th có yêu cầu khác.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: chị V chưa yêu cầu anh Th cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Th mà không ai có quyền cản trở.

Về tài sản và nợ chung: chị V trình bày không có và không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: chị V phải nộp theo quy định pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; khoản 2, Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Mẫn V và anh Nguyễn Quốc Th.

2. Về nuôi con chung: chị Trần Mẫn V được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Mẫn Ng (nữ), sinh ngày 16 tháng 3 năm 2017 cho đến khi cháu Ngđủ 18 tuổi hoặc khi chị V, anh Th có yêu cầu khác.

Anh Nguyễn Quốc Thchưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Th mà không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, không xem xét

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Trần Mẫn V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0017025, ngày 22.01.2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ