vanban.org

Bản án 116/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam. Buộc ông Phan Trọng Hiếu có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam tiền vốn gốc 178.283.182đ và tiền lãi 63.427.250 đồng tính đến ngày xét xử 23.10.2019. Tổng cộng vốn và lãi 241.710.432đồng (hai trăm bốn mươi một triệu bảy t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________
Bản án số: 116/2019/DS-ST
Ngày 23 tháng 10 năm 2019
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Bé. 2. Ông Huỳnh Thanh Tuấn. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Đoàn Thụy Thùy Trang, kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 137/2019/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 451/2019/QĐST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (Tên viết tắc là VIB).

Địa chỉ: Tầng 01, tầng 06 và tầng 07 tòa nhà CornerStone, 16 Phan Chu Trinh, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàng Kiếm, Thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc Vũ. Chức vụ: Tổng Giám đốc.

- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu Hà. Chức vụ: Giám đốc TTQLN KHCN, khối Quản trị rủi ro theo giấy ủy quyền số 3.0141.17 ký ngày 16/01/2017 của Tổng Giám đôc Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam.

Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Sailing, số 111A Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

1.1. Ông Hà Quang Thống, sinh năm 1976. Chuyên viên phòng XLN KHCN MN, khối quản trị rủi ro Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam.

Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Sailing, số 111A Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.

1.2. Ông Chìa Quốc Thắng, sinh năm 1987. Chuyên viên phòng XLN KHCN MN, khối quản trị rủi ro Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam.

Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Sailing, số 111A Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.

1.3. Bà Khưu Thị Huỳnh Anh, sinh năm 1988. Quản lý khách hàng, Khối KHCN, CN An Giang - Ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam.

Địa chỉ: số 73 - 75 Nguyễn Trãi, phường Mỹ Long, Tp Long Xuyên, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Phan Trọng Hiếu, Sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp An Khương, xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện nguyên đơn bà Trần Thị Thu Hà trình bày: Vào ngày 27.9.2016 Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh An Giang và ông Phan Trọng Hiếu ký kết Hợp đồng tín dụng số 0221.HĐTD1.621.16 ngày 27/9/2016 vay số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng), mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh lúa gạo; thời hạn vay là 12 tháng, th˦a thuận lãi suất tại thời điểm vay 7,99%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 150%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay ông Hiếu đã thế chấp cho Ngân hàng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01327, thửa đất số 53, tờ bản đồ số 23, diện tích 150,3m2, Mục đích sử dụng đất: Đất ở nông tôn. Đất tọa lạc tại ấp Kiến Thuận 1, xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang và tài sản gắn liền trên đất là nhà ở Loại nhà ở: Nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng: 73,3m2, diện tích sàn: 100,4m2, hình thức sở hữu: sở hữu riêng, Cấp (Hạng): Cấp 4b. Do ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp ngày 11.9.2015 cho ông Phan Trọng Hiếu đứng tên quyền sử dụng.

Do đến hạn thanh toán ông Hiếu không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền vốn và lãi cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Nay, Ngân hàng yêu cầu ông Hiếu có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh An Giang số tiền nợ gốc là 178.283.182đồng và tính lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký đến ngày xét xử sơ thẩm đồng thời tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp, Hợp đồng tính dụng giữa Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh An Giang và ông Phan Trọng Hiếu để đảm bảo cho việc thi hành án.

Ông Phan Trọng Hiếu được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Hiếu vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến và hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Ông Phan Trọng Hiếu đã được tống đạt các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoản phiên tòa nhưng hôm nay ông Hiếu vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Hiếu là đúng theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam khởi kiện ông Phan Trọng Hiếu; yêu cầu ông Hiếu thanh toán số tiền vốn vay 178.283.182đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng số 0221.HĐTD1.621.16 ngày 27/9/2016. Ông Hiếu có nơi cư trú ấp An Khương, xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 26, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xuất phát từ việc Ngân hàng yêu cầu ông Hiếu trả số tiền 178.283.182đồng theo hợp đồng tín dụng số 0221.HĐTD1.621.16 ngày 27/9/2016. Do đến hạn thanh toán ông Hiếu không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền vay cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về nội dung: Hợp đồng tín dụng số 0221.HĐTD1.621.16 ngày 27/9/2016 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam với ông Hiếu xác lập trên cơ sở tự nguyện th˦a thuận giữa các bên, hình thức và nội dung hợp đồng không trái với đạo đức, xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Căn cứ theo hợp đồng tín dụng đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, trong quá trình thực hiện hợp đồng phía ông Hiếu không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi đúng hạn cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn là vi phạm nghĩa vụ của người vay theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Nên việc Ngân hàng khởi kiện ông Hiếu yêu cầu thanh toán vốn vay, lãi còn nợ cho Ngân hàng là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về lãi suất từ sau thời điểm xét xử, tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn có yêu cầu bên vay ông Hiếu tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 0221.HĐTD1.621.16 ngày 27/9/2016 đã ký kết cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Xét thấy, yêu cầu này là không trái với quy định của pháp luật có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 0224.HĐTC1.621.15 ngày 19/9/2015 giữa ông Hiếu với Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng này ký kết trên cơ sở tự nguyện th˦a thuận giữa các bên, có công chứng, chứng thực và có đăng ký thế chấp tuân thủ theo quy định pháp luật nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa: Ông Thắng đại diện Ngân hàng yêu cầu ông Hiếu trả vốn gốc 178.283.182đồng và tiền lãi 63.427.250đồng tính đến ngày xét xử 23.10.2019. Tổng cộng vốn và lãi là 241.710.432đồng (hai trăm bốn mươi một triệu bảy trăm mười ngàn bốn trăm ba mươi hai đồng) và trả lãi phát sinh từ ngày 24.10.2019 cho đến khi thi hành án xong.

Từ cơ sở phân tích trên nghĩ nên buộc ông Hiếu có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi 241.710.432đồng (hai trăm bốn mươi một triệu bảy trăm mười ngàn bốn trăm ba mươi hai đồng).

Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số số 0224.HĐTC1.621.15 ngày 19/9/2015 giữa ông Hiếu với Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam để bảo đảm việc thi hành án.

- Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: 1.000.000 đồng do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Nên buộc ông Hiếu có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền trên.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Đối với nguyên đơn: Ông Chìa Quốc Tháng đại diện theo ủy quyền, từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với bị đơn: Ông Phan Trọng Hiếu từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, xem xét:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam.

- Buộc ông Phan Trọng Hiếu có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền 241.710.432đồng (hai trăm bốn mươi một triệu bảy trăm mười ngàn bốn trăm ba mươi hai đồng). trong đó vốn 178.283.182đồng và tiền lãi 63.427.250 đồng tính đến ngày xét xử 23.10.2019.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Các Điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Các Điều 26, 35, 146, 147, 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 91, 94 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam.

2. Buộc ông Phan Trọng Hiếu có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam tiền vốn gốc 178.283.182đ và tiền lãi 63.427.250 đồng tính đến ngày xét xử 23.10.2019. Tổng cộng vốn và lãi 241.710.432đồng (hai trăm bốn mươi một triệu bảy trăm mười ngàn bốn trăm ba mươi hai đồng).

Kể từ ngày 24.10.2019 ông Phan Trọng Hiếu phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết số 0221.HĐTD1.621.16 ngày 27/9/2016 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam .

3. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 0224.HĐTC1.621.15 ngày 19/9/2015 giữa ông Phan Trọng Hiếu với Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam để bảo đảm việc thi hành án.

4. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: 1.000.000 đồng do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc ông Hiếu có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền trên.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Phan Trọng Hiếu phải chịu 12.085.512đồng (mười hai triệu không trăm tám mươi năm ngàn năm trăm mười hai đồng).

6. Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.564.000đ (năm triệu năm trăm sáu mươi bốn ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012788 ngày 19.3.2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ