vanban.org

Bản án 116/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 11/09/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

uật đất đai năm 1987, 1993, 2013.

Nghị quyết số 32 /201 / BTVQH14 ngày 30/12/201 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph , lệ ph Tòa án, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân c liên quan đến án ph và lệ ph Tòa án. Không chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn bà Tr n Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "TÌNH - HUÊ"
  • Tòa quyết gì? uật đất đai năm 1987, 1993, 2013.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2019/DS - PT
Ngày: 11 - 9 - 2019
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng

Các Thẩm phán:

Ông Ph m Hoàng âm

Ông Nguy n H ng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: ng Tr n V T nh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 10,11 tháng 9 năm 2019, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2019/TLPT - DS ngày 17 tháng 01 năm 2019 về Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 214/2018/DS - ST ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 61/2019/QĐ - PT ngày 15 tháng 3 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2019/QĐ - PT ngày 12 tháng 4 năm 2019; Quyết định t m ng ng phiên tòa số 09/2019/QĐPT - D , ngày 0 tháng 5 năm 2019; Quyết định t m đình chỉ xét xử phúc thẩm dân sự số 08/2019/QĐ-PT ngày 0 tháng năm 2019; Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 12/2019/QĐ-PT, ngày 12 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Ông Lê Quang T, sinh năm: 1980.

1.2. Bà ê Thị H ng T, sinh năm: 1982.

1.3. Bà Tr n Thị , sinh năm: 1953.

Người đ i diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Quang T và bà ê Thị H ng T (Theo văn bản ủy quyền ngày 22/4/2016): Bà Tr n Thị . C m t

Cùng địa chỉ: Khu vực A, phường B, thị xã C, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn:

2.1. Bà ưu Thị H, sinh năm: 1949.

Người đ i diện hợp pháp của bị đơn bà ưu Thị H Theo văn bản ủy quyền ngày 7/5/2019): ng âm Văn , sinh năm: 1977. C m t

Địa chỉ: Khu vực A, phường B, thị xã C, tỉnh Hậu Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị đơn bà ưu Thị H: uật sư Tr n Văn Đ, Văn phòng uật sư Đ.

Địa chỉ: đường D, khu vực E, phường F, thành phố G, tỉnh Hậu Giang. Có m t

2.2. Bà Nguy n Thị Đ, sinh năm: 19 1. C m t

2.3. Ông Phan Văn H, sinh năm: 1953. C m t

2.4. Bà Ph m Thị N, sinh năm: 1975. C m t

2.5. Ông Nguy n Văn D, sinh năm: 1948. V ng m t

2.6. Ông Phan Thanh B, sinh năm: 19 4

2.7. Ông Phan Thanh H, sinh năm: 1974

Người đ i diện hợp pháp của bị đơn ông Phan Thanh B và ông Phan Thanh H (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/6/2018 và ngày 26/8/2019): Bà Huỳnh Cẩm T, sinh năm: 197 . C m t

2.8. Ông âm Văn , sinh năm: 1977. C m t

Cùng địa chỉ: Khu vực A, phường B, thị xã C, tỉnh Hậu Giang.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Phan Thanh H, sinh năm: 1972. V ng m t

3.2. Chị Phan Huỳnh , sinh năm: 1990. V ng m t

3.3. Bà Nguy n Thị Thu B, sinh năm: 19 0. V ng m t

3.4. Chị Phan Minh T, sinh năm: 1990. V ng m t

3.5. Anh Phan Nguy n Đ, sinh năm: 1995. V ng m t

3.6. Anh Phan Chí T, sinh năm: 2000. V ng m t

3.7. Bà Huỳnh Thị Trúc K, sinh năm: 1979. V ng m t

3.8. Bà Huỳnh Cẩm T, sinh năm: 197 . Có m t

3.9. Ông Võ Văn Đ, sinh năm: 1941. Có m t

Cùng địa chỉ: Khu vực A, phường B, thị xã C, tỉnh Hậu Giang.

Người đ i diện hợp pháp của người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan ông Võ Văn Đ Theo văn bản ủy quyền ngày 7/5/2019): ng âm Văn , sinh năm: 1977. C m t

Người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan ông Võ Văn Đ: uật sư Tr n Văn Đ, Văn phòng uật sư Đ.

Địa chỉ: đường D, khu vực E, phường F, thành phố G, tỉnh Hậu Giang. C m t

3.10. Chị Phan Thanh L, sinh năm: 198 . V ng m t

Địa chỉ: Ấp H, xã I, huyện K, tỉnh Hậu Giang.

3.11. Ngân hàng A.

Người đ i diện ông H ng Minh H. Chức vụ: Giám đốc chi nhánh huyện K. V ng m t

Địa chỉ: Khu vực L, phường B, thị xã C, tỉnh Hậu Giang.

4. Người làm chứng:

4.1. ng Nguy n Văn H, sinh năm: 1949. V ng m t

Địa chỉ: Khu vực A, phường B, thị xã C, tỉnh Hậu Giang.

4.2. ng Cao Hoàng B, sinh năm: 1953. V ng m t

Địa chỉ: Khu vực A, phường B, thị xã C, tỉnh Hậu Giang.

5. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Tr n Thị .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu c trong h sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn bà Trần Thị S đồng thời là đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn Lê Thị Hồng T, Lê Quang T trình bày: Ngu n gốc ph n đất đang tranh chấp với các bị đơn là của bà và ch ng bà là ông ê Quang T1 đã mất năm 2009) sang của ông Võ Văn T vào năm 1990, diện t ch 1. 73m2, khi sang hai bên c làm giấy tay. úc sang ông T c giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t m thời. Bà và ông T1 sử dụng đến năm 2000 thì ch nh quyền địa phương vận động hiến đất múc kênh Thủy ợi, gia đình bà tự nguyện hiến đất múc kênh Thủy ợi nhưng không rõ diện t ch bao nhiêu. Đến khoảng năm 2015 ph n đất còn l i gia đình bà tiếp tục hiến đất cho Nhà nước để làm đường lộ Cách M ng Tháng 8 nhưng c ng không biết diện t ch Nhà nước lấy làm lộ là bao nhiêu. Sau khi làm đường xong ph n đất của gia đình vẫn còn nhưng đã bị các bị đơn lấn chiếm. Do đ , bà yêu c u Tòa án buộc các bị đơn trả l i ph n đất lấn chiếm theo diện t ch đo đ c thực tế cụ thể:

Buộc các bị đơn ưu Thị H trả 100,9m2; âm Văn trả 28.3m2; Nguy n Văn D trả 8 ,8m2; Ph m Thị N trả 29.1m2; Phan Thanh H trả 28.3m2; Phan Thanh B trả 27,7m2; Phan Văn H trả 28,7m2; Nguy n Thị Đ trả 1,3m2.

Tại văn bản ngày 01/01/2018, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Ngu n gốc ph n đất tranh chấp là bà sang của ông Tr n Văn T vào năm 1999, đến năm 2000 bà được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà sử dụng ổn định t năm 1999 đến nay, trong quá trình sử dụng giữa bà và ông T1 ch ng bà S) không phát sinh tranh chấp. Năm 2015 bà cấp đổi bằng khoáng, trong bằng khoáng ph n đất bà thể hiện giáp với đường Cách m ng Tháng 8, vì vậy nguyên đơn cho rằng bà lấn chiếm bà không đ ng ý. Ph n đất nguyên đơn yêu c u bà trả l i trước đây là lộ đất, là lối đi chung của các hộ. au khi giải ph ng m t bằng để làm đường Cách m ng Tháng Tám thì ph n đất tranh chấp là của Nhà nước, t m thời bà sử dụng khi nào Nhà nước c yêu c u thì bà trả l i nên bà không đ ng ý theo yêu c u của nguyên đơn.

Tại văn bản ngày 01/01/2018, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bị đơn Phan Văn H trình bày: Ngu n gốc ph n đất tranh chấp là ông sang của ông Tr n Văn T vào năm 1999, đến năm 2000 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đo đ c cấp giấy thì đo đ c đến m lộ đất. Khi sang đất của ông T thì ông T1 c ng biết nhưng không c ngăn cản gì, trong suốt quá trình sử dụng đất t năm 1999 đến năm 2009 ông T1 mất giữa hai bên không c tranh chấp gì. ng th a nhận trước đây sang đất ph a trước giáp bờ kênh Nhà máy Việt Nam c bụi tre nhưng không biết ai tr ng, đến khi giải ph ng m t bằng để làm lộ thì Nhà nước đã ban hết không còn. Ph n đất nguyên đơn yêu c u trước đây là lộ đất, là lối đi chung. au khi giải ph ng m t bằng để làm đường Cách m ng Tháng Tám thì ph n đất tranh chấp là của Nhà nước, t m thời ông sử dụng khi nào Nhà nước c yêu c u thì ông trả l i nên ông không đ ng ý theo yêu c u của nguyên đơn.

Tại văn bản ngày 18/01/2018, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bị đơn Phan Thanh B trình bày: Ngu n gốc ph n đất tranh chấp là ông và bà Huỳnh Cẩm A vợ ông đã mất) sang của ông Nguy n Văn vào năm 200 . Khi sang ông c đưa bằng khoáng cho ông xem thì ph n đất thể hiện giáp kênh Nhà máy Việt Nam, trong năm 200 vợ ông là Huỳnh Cẩm A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ph n đất của ông thể hiện giáp với lộ đất và kênh Nhà máy Việt Nam. Ph n đất do vợ ông là Huỳnh Cẩm A đứng tên đến năm 2009 thì chuyển mục đ ch sử dụng, năm 2013 vợ ông mất thì để th a kế cho con gái là Phan Huỳnh đứng tên, nhưng thực tế ông là người quản lý sử dụng. Ph n đất nguyên đơn yêu c u trước đây là lộ đất, là lối đi chung nên nguyên đơn mới tr ng cây trên lộ đất. au khi giải ph ng m t bằng để làm đường Cách m ng Tháng Tám thì ph n đất tranh chấp là của Nhà nước, t m thời ông sử dụng khi nào Nhà nước c yêu c u thì ông trả l i nên ông không đ ng ý theo yêu c u của nguyên đơn.

Tại văn bản ngày 04/01/2018, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bị đơn Phạm Thị N trình bày: Ngu n gốc ph n đất tranh chấp là bà sang của ông Nguy n Văn vào năm 200 sang cùng thời điểm với ông B) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 200 , ph n đất bà sang của ông giáp với lộ đất, đến năm 2009 bà chuyển mục đ ch sử dụng một ph n. au khi giải ph ng m t bằng để làm đường Cách m ng Tháng Tám thì ph n đất tranh chấp là của Nhà nước, t m thời bà sử dụng khi nào Nhà nước c yêu c u thì bà trả l i nên bà không đ ng ý theo yêu c u của nguyên đơn.

Tại văn bản ngày 13/6/2018 và tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Huỳnh Cẩm T đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Thanh H trình bày: Vào năm 200 vợ ch ng bà c sang một ph n đất của ông Nguy n Văn , và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Phan Thanh H đứng tên. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất c ghi rõ ph n đất của bà giáp với lộ đất và kênh Nhà máy Việt Nam. Đến năm 2009 ông H xin chuyển một ph n đất lên thổ cư và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định. au khi giải ph ng m t bằng để làm đường Cách m ng Tháng Tám thì ph n đất tranh chấp là của Nhà nước, t m thời bà sử dụng khi nào Nhà nước c yêu c u thì bà trả l i nên bà không đ ng ý theo yêu c u của nguyên đơn.

Bị đơn Nguy n Văn D đã được triệu tập hợp lệ nhưng v ng m t nên không c ý kiến gì đối với yêu c u của nguyên đơn.

Tại văn bản ngày 16/6/2018, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bị đơn Lâm Văn L trình bày: Ngu n gốc ph n đất tranh chấp là ông sang của bà ưu Thị H vào năm 2010, và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng năm. Khi sang hiện tr ng đất không c cây tr ng, ph n đất bà H sang cho ông giáp kênh Nhà Máy Việt Nam, nhưng khi được cấp giấy thì ph n đất trong bằng khoáng giáp với đường lộ. ng sử dụng ổn định t năm 2010 đến nay không ai ngăn cản. Nay nguyên đơn yêu c u trả l i ph n đất lấn chiếm ông không đ ng ý, ông yêu c u được ổn định sử dụng.

Tại văn bản ngày 03/7/2016, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bị đơn bà Lưu Thị H trình bày: Trước đây bà c ph n đất ruộng 4.328m2, ph n đất của bà giáp với ph n đất của bà vợ ông T1 đã mất), đến khi Nhà nước múc kênh Thủy ợi thì ph n đất của ông T1 bị ảnh hưởng và ph n đất của bà bị ảnh hưởng khoảng 423m2 vì Nhà nước múc đất của ông T1, bà bỏ qua ph n đất của bà, việc nhà nước múc kênh Thủy ợi và làm lộ bà không được b i thường. Việc ông T1 ch ng bà ) tr ng tre trên ph n đất của bà, trước đây bà c yêu c u ông T1 đốn tre và trả đất, thì ông T1 cho rằng đất Nhà nước đã quy ho ch làm lộ. Khi nào làm lộ xong thì ông T1 đốn.

Diện t ch đất thực tế sử dụng của bà còn thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên nguyên đơn cho rằng bà lấn chiếm là không đúng. Do đ bà không đ ng ý yêu c u của nguyên đơn, yêu c u được ổn định sử dụng. Hiện tr ng trên ph n đất bà tranh chấp với bà c một số cây tràm biển là tự mọc, không phải nguyên đơn tr ng.

Tại văn bản ngày 03/7/2016 quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn Đ trình bày: ng là ch ng bà ưu Thị H, ông thống nhất toàn bộ lời trình bày của bà H.

Tại văn bản ngày 08/6/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Thanh H trình bày: ng là ch ng của bà Ph m Thị N, vào năm 200 ông và bà N c sang một ph n đất của ông Nguy n Văn , năm 200 vợ ông là Ph m Thị N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2009 bà N xin chuyển một ph n đất lên thổ cư và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định. Nguyên đơn cho rằng bà N lấn chiếm là không đúng, ông không đ ng ý theo yêu c u của nguyên đơn, yêu c u được ổn định sử dụng. ng xin v ng m t trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại văn bản ngày 08/6/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phan Huỳnh L trình bày: Chị là con ông Phan Thanh B và bà Huỳnh Cẩm A, vào năm 2015 mẹ chị để th a kế ph n đất cho chị, hiện nay cha chị là ông Phan Thanh B đang quản lý sử dụng, chị thống nhất với lời trình bày của ông B, mọi việc do ông B quyết định. Chị xin v ng m t trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại văn bản ngày 08/6/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu B trình bày: Bà là vợ của ông Phan Văn H, năm 2001 bà và ông H c sang một ph n đất của ông Tr n Văn T và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ph n đất của bà ph a trước giáp lộ kênh Nhà máy Việt Nam không c giáp với đất ai. Ph n đất nguyên đơn cho rằng bà lấn chiếm trước đây là lối đi chung của các hộ dân, bà cho rằng ph n đất tranh chấp là của Nhà nước khi nào nhà nước c nhu c u sử dụng thì bà trả l i cho Nhà nước, bà không đ ng ý theo yêu c u của nguyên đơn, bà thống nhất với lời trình bày của ông H, mọi việc do ông H quyết định. Bà xin v ng m t trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại các văn bản ngày 08/6/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Minh T, Phan Nguyễn Đ, Phan Chí T, Phan Thanh L trình bày: Anh, chị là con của ông Phan Văn H và bà Nguy n Thị Thu B, anh, chị thống nhất với lời trình bày của ông H, việc tranh chấp với bà do ông H quyết định và xin v ng m t trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại văn bản ngày 02/8/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị Trúc K trình bày: Chị là vợ của ông âm Văn , chị thống nhất với lời trình bày của ông . Chị xin v ng m t trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại văn bản ngày 05/9/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng A, đại diện theo ủy quyền ông Hồng Minh H trình bày: Bà Nguy n Thị Đ có vay tiền t i Ngân hàng A, trong quá trình vay bà Đ thanh toán nợ đ y đủ, ngoài ph n đất tranh chấp bà Đ còn tài sản khác để đảm bảo ngh a vụ trả nợ. Do đ ngân hàng không c yêu c u gì và xin v ng m t trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Người làm chứng ông Nguy n Văn H, ông Cao Hoàng B xác định ph n đất các bị đơn sử dụng là của ông T1, bà S.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 214/2018/DS - ST ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:

Không chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn Tr n Thị , Lê Quang T, ê Thị H ng T về việc yêu c u các bị đơn: Nguy n Thị Đ trả l i ph n đất tranh chấp 1,3m2, ông Phan Văn H ph n đất c diện t ch 28,7m2, ông Phan Thanh B ph n đất c diện t ch 27,7m2, ông Phan Thanh H ph n đất c diện t ch 28,3m2, bà Ph m Thị N ph n đất c diện t ch 29,1m2, ông Nguy n Văn D ph n đất c diện tích 86,6m2, ông âm Văn ph n đất c diện t ch 28,3m2, bà ưu Thị H ph n đất c diện t ch 100,9m2 c mãnh tr ch đo đ c kèm theo).

Các bị đơn ưu Thị H, âm Văn , Nguy n Văn D, Ph m Thị N, Phan Thanh H, Phan Thanh B được sử dụng cây tr ng trên ph n đất tranh chấp.

- Buộc bị đơn ưu Thị H trả l i giá trị cây tr ng cho bà , ông T, bà T số tiền 300.000 đ ng ba trăm ngàn đ ng).

- Buộc bị đơn âm Văn trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 220.000 đ ng hai trăm hai mươi ngàn đ ng).

- Buộc bị đơn Nguy n Văn D trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 375.000 đ ng ba trăm bảy mươi lăm ngàn đ ng).

- Buộc bị đơn Ph m Thị N trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 252.000 đ ng hai trăm năm mươi hai ngàn đ ng).

- Buộc bị đơn Phan Thanh H c đ i diện theo ủy quyền bà Huỳnh Cẩm T trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 1.790.000 đ ng một triệu bảy trăm ch n mươi ngàn đ ng).

- Buộc bị đơn Phan Thanh B trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 520.000 đ ng năm trăm hai mươi ngàn đ ng).

- Buộc người c quyền lợi và ngh a vụ liên quan Võ Văn Đ trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 1.230.000 đ ng Một triệu hai trăm ba mươi ngàn đ ng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án ph ; chi ph tố tụng, quyền kháng cáo và quyền yêu c u thi hành án của các đương sự.

Ngày 12/11/2018 nguyên đơn bà Tr n Thị làm đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số: 214/2018/DS - ST ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Hậu Giang.

Nội dung kháng cáo: Yêu c u cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu c u khởi kiện cho nguyên đơn, buộc các bị đơn trả l i ph n đất lấn chiếm.

T i phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Tr n Thị vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện và giữ nguyên yêu c u kháng cáo. Các bị đơn không đ ng ý với yêu c u khởi kiện và yêu c u kháng cáo của nguyên đơn.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp cho bà Lưu Thị H và ông Võ Văn Đ cho rằng bà Tr n Thị khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bà H và ông Đ, nhưng không c chứng cứ chứng minh cho yêu c u khởi kiện theo quy định t i khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: T khi thụ lý đến phiên tòa ngày hôm nay Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đ i diện Viện kiểm sát nhận định, các nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về quyền sử dụng đất, đối với đất các bị đơn đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn không chứng minh được đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn, nên không c cơ sở xem xét cho nguyên đơn. Đ i diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn; áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét t i phiên tòa, kết quả tranh tụng t i phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đ ng xét xử nhận định:

Các nguyên đơn Lê Quang T, ê Thị H ng T, Tr n Thị kiện ưu Thị H, Nguy n Thị Đ, Phan Văn H, Ph m Thị N, Nguy n Văn D, Phan Thanh B, Phan Thanh H và âm Văn để đòi l i quyền sử dụng đất t i khu vực A, phường B, thị xã C, tỉnh Hậu Giang nên Tòa án nhân dân thị xã C thụ lý và xét xử theo quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là c căn cứ, đúng thẩm quyền.

au khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Tr n Thị c đơn kháng cáo hợp lệ và trong h n luật định nên được Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm. T i phiên tòa bà Tr n Thị giữ nguyên yêu c u kháng cáo.

Xét kháng cáo, nguyên đơn bà Tr n Thị yêu c u Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu c u khởi kiện của bà đối với các bị đơn, buộc các bị đơn trả l i diện t ch đã lấn chiếm của bà c diện t ch 345,6 m2.

3.1 Ngu n gốc đất: Vào ngày 10 tháng 9 năm 1990 ông ê Quang T1 là ch ng của bà Tr n Thị c nhận đất của người nhượng đất là ông Võ Văn T, đất ruộng c diện t ch 1,673m2 Theo tờ nhượng đất ruộng ngày 10/9/1990). Ph n đất này ông Võ Văn T đã được y ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t m thời vào ngày 18/5/1989. Theo nội dung của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t m thời thì người được cấp giấy chỉ được quyền sử dụng đất ổn định trên 15 năm, không được chuyển nhượng, sang bán. T i thời điểm ông ê Quang T1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Võ Văn T, uật đất đai năm 1987 đang c hiệu lực pháp luật. Theo quy định t i Điều 5 của uật đất đai năm 1987 nghiêm cấm việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng đất giữa ông Võ Văn T và ông ê Quang T1 c xác nhận của Ban tự quản và Ban Nông nghiệp thị trấn C, nhưng không c văn bản của y ban thị trấn C cho phép các bên chuyển quyền sử dụng đất theo quy định t i khoản 3 Điều 1 uật đất đai năm 1987. Đ ng thời, việc giao nhận đất giữa ông Võ Văn T và ông T1 không c đo đ c để xác định tứ cận, ký giáp ranh, không xác định số đo cụ thể, không c cơ sở xác định các ph n đất đang c tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. au khi nhận đất của ông Võ Văn T, ông Lê Quang T1 chỉ sử dụng t năm 1991, 1992, không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định t i khoản 2 Điều 18 uật đất đai năm 1987. Do đ , c ng không c cơ sở để xác định ông ê Quang T1 và bà Tr n Thị sử dụng đất ổn định, lâu dài để xác lập quyền sử dụng đất theo quy định t i Điều 99, Điều 100, Điều 101 uật đất đai năm 2013.

Đến năm 1992 Nhà nước đã c quy ho ch đào kênh thủy lợi Nhà Máy Việt Nam, gia đình ông T1 đã tự nguyện hiến đất làm kênh. T i phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn th a nhận việc gia đình nguyên đơn hiến đất múc kênh thủy lợi c nhận tiền h trợ của Nhà nước, nhưng không nhớ bao nhiêu. au khi ch nh quyền đã múc kênh thủy lợi ph n đất múc kênh đ p thành bờ xáng lộ đất c ), người dân địa phương sử dụng làm lối đi chung và gia đình bà Tr n Thị sử dụng một ph n bờ xáng để tr ng tre, chuối và các lo i hoa màu. Ông Lê Quang T1 chết vào năm 2009, đến thời điểm này ông T1 vẫn không xác định được ph n đất múc kênh thủy lợi c diện t ch là bao nhiêu, đất còn l i bao nhiêu và không đi đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai.

Khi ông Lê Quang T1 chết ph n đất ông nhận chuyển nhượng của ông Võ Văn T, không đăng ký đất đai t i cơ quan quản lý đất đai địa phương xác định quyền sử dụng đất của ông vào sổ mục kê ho c ghi vào sổ địa ch nh. Do đ , không c cơ sở để xác định di sản th a kế của ông T1 để l i cho bà Tr n Thị , ông ê Quang T và bà ê Thị H ng T diện t ch đất bao nhiêu. Đến năm 2012 y ban nhân dân tỉnh Hậu Giang triển khai thực hiện dự án đường Cách M ng Tháng Tám nối dài t i thị trấn C. Với chủ trương Nhà nước đ u tư ph n đường, vận động nhân dân trả l i ph n đất ven kênh thủy lợi, t m kênh lên lộ xi măng hiện hữu Biên bản làm việc ngày 07/01/2013). Theo dự án đường Cách M ng Tháng Tám đất của bà Tr n Thị bị ảnh hưởng ph n đất trên lộ “xi măng hiện hữu”, đối với thửa 1270 diện t ch 70m2, lo i đất CNm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00513, ngày 03/4/1998 cấp cho hộ bà Tr n Thị . Diện t ch đất này nằm ngoài diện t ch đất 1.673m2 do ông T1 nhận chuyển nhượng của ông Võ Văn T. T i biên bản làm việc ngày 07/01/2013 của đoàn vận động thị trấn C, bà Tr n Thị đã thống nhất chủ trương làm đường Cách M ng Tháng Tám, không khiếu n i gì.

Như vậy, diện t ch đất ông ê Quang T1 nhận chuyển nhượng của ông Võ Văn T đã ảnh hưởng toàn bộ trong dự án đường Cách M ng Tháng Tám nối dài t i thị xã C, tỉnh Hậu Giang trước đây là thị trấn C). Gia đình bà Tr n Thị đã tự nguyện hiến đất và đã nhận h trợ của Nhà nước, để phục vụ công trình giao thông t i địa phương, trở thành công trình do Nhà nước quản lý. M t khác, đã qua nhiều l n sửa đổi bổ sung uật Đất đai t uật Đất đai năm 1987, 1993, 2013, gia đình bà Tr n Thị không c cơ sở nào để xác lập quyền sở hữu đối với các ph n đất đang tranh chấp với các bị đơn. Qua các biên bản xác nhận của những người làm chứng, xác nhận gia đình nguyên đơn bà Tr n Thị c thực tế sử dụng ph n đất t i bờ xáng sau khi múc kênh thủy lợi để tr ng các lo i cây như chuối, tre, tràm... Hội đ ng xét xử th a nhận xác nhận của những người làm chứng là đúng với sự thật. Nhưng đất đai là do Nhà nước thống nhất quản lý, việc sử dụng đất của gia đình bà t i thời điểm sau khi múc kênh thủy lợi là sử dụng đất thuộc về Nhà nước quản lý, bà không c quyền sử dụng đất. T i Công văn số 801/ BND, ngày 24/9/2019 của Phòng Tài Nguyên và Môi trường - y ban nhân dân thị xã C xác nhận Căn cứ vào hồ sơ địa ch nh thành lập năm 1997 tại vị tr các phần đ t tranh ch p không có tên ông Lê uang T1 và bà Trần Thị S trong hồ sơ địa ch nh . Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu c u khởi kiện của các nguyên đơn bà Tr n Thị , ông ê Quang T, bà ê Thị H ng T là c cơ sở.

3.2 Nguyên đơn tranh chấp quyền sử dụng đất với các bị đơn: bà ưu Thị H, ông âm Văn , ông Nguy n Văn D, ông Phan Thanh B, ông Phan Thanh H, bà Ph m Thị N, ông Phan Văn H, bà Nguy n Thị Đ. Các bị đơn kh ng định ph n đất các bị đơn đang t m sử dụng là của Nhà nước quản lý, không phải của nguyên đơn, không đ ng ý với yêu c u khởi kiện của nguyên đơn. Tất cả các bị đơn không ai c phản tố yêu c u Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đang tranh chấp. Vì các bị đơn th a nhận đất tranh chấp là hành lang lộ giới do Nhà nước quản lý, khi nào Nhà nước c n thì họ đ ng ý giao l i.

Hội đ ng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy, các bị đơn không c phản tố yêu c u công nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là c cơ sở. Theo Mãnh tr ch đo địa ch nh số 08-2019, ngày 08/8/2019 của Trung Tâm K Thuật Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Hậu Giang, diện t ch đất nguyên đơn tranh chấp với các bị đơn như sau:

Đối với thửa đất số 456, tờ bản đ số 4 của bà ưu Thị H, t i vị tr số 10 c diện t ch 101,6 m2. Hội đ ng xét xử nhận thấy, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00452/Q DĐ/452 do y ban nhân huyện K cấp vào ngày 18/12/2002. Nhà nước cấp đất cho bà ưu Thị H là tới đường, không tiếp giáp với thửa đất nào của bà Tr n Thị .

Đối với thửa đất 2873, tờ bản số 4 của ông âm Văn , t i vị tr số 9, diện t ch 27m2 c ngu n ông nhận chuyển nhượng đất t thửa 45 , tờ bản đố số 4 của bà ưu Thị H. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01410, do y ban nhân huyện C cấp vào ngày 31/12/2010. Nhà nước cấp đất cho ông âm Văn là tới đường, kế tiếp là giáp với Kinh nhà máy Việt Nam, không tiếp giáp với thửa đất nào của bà Tr n Thị .

Thửa đất số 2131, c diện t ch 210m2 và thửa 2245 c diện t ch 420 m2 đất tr ng lúa, t i vị tr số 8, đất c ngu n gốc ông Nguy n Văn D nhận chuyển nhượng của bà ưu Thị H tách quyền sử dụng đất t thửa 45 , tờ bản đ 4. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng số H00372, do y ban nhân huyện K cấp vào ngày 19/5/200 ; và Giấy chứng nhận quyền sử dụng số H00 9, ngày 05/02/2007. Nhà nước cấp đất cho ông Nguy n Văn D tới đường, kế tiếp là giáp với Kinh nhà máy Việt Nam, không tiếp giáp với thửa đất nào của bà Tr n Thị .

Bà Tr n Thị tranh chấp với bà Ph m Thị N t i vị tr số 7, thửa đất 2500, tờ bản đ số 4, c diện t ch 27,3m2, lo i đất ở đô thị, đất c ngu n gốc bà N nhận chuyển nhượng của ông Nguy n Văn vào năm 200 . Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01768, do y ban nhân dân huyện K cấp vào ngày 09/1/2009, Nhà nước cấp đất cho bà N đến lộ đất, tiếp giáp với Kinh Nhà máy Việt Nam. ơ đ thửa đất theo giấy chứng nhận thể hiện c ch a hành lang t lộ đất vào đất của bà N 6,5m.

Bà Tr n Thị tranh chấp với ông Phan Thanh H t i vị tr số , c diện t ch 26,1m2, lo i đất ở đô thị. Đất c ngu n gốc ông H nhận chuyển nhượng của ông Nguy n Văn t năm 200 , diện t ch 80m2 đã được y ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H017 5, ngày 09/01/2009. Nhà nước cấp đất cho ông H đến lộ đất, tiếp giáp với Kinh Nhà máy Việt Nam. ơ đ thửa đất theo giấy chứng nhận thể hiện c ch a hành lang lộ giới đến đất của ông H 6,5m.

Ph n đất bà tranh chấp với ông Phan Thanh B, t i vị tr số 5, c diện t ch 25,9m2. Ngu n gốc đất của ông Nguy n Văn chuyển nhượng cho bà Huỳnh Cẩm A vợ của ông Phan Thanh B đã chết) vào năm 200 . Năm 2015 bà Huỳnh Cẩm A chết để th a kế quyền sử dụng đất cho con gái là Phan Huỳnh . Hiện đất này đang do ông B quản lý, sử dụng. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01767, do y ban nhân dân huyện K cấp vào ngày 09/1/2009, Nhà nước cấp đất cho bà Huỳnh Cẩm A đến lộ đất, tiếp giáp với Kinh Nhà máy Việt Nam. ơ đ thửa đất theo giấy chứng nhận thể hiện c ch a hành lang t lộ đất đến đất của bà 6,5m.

Bà Tr n Thị tranh chấp quyền sử dụng đất với hộ của ông Phan Văn H, t i vị tr 4, diện t ch 27,3m2. Ngu n gốc đất ông Phan Văn H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Tr n Văn T t năm 1999, ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00721/Q DĐ/ 00721 ngày 09/3/2001. Trường hợp của ông H nhận chuyển nhượng cùng chủ đất c là ông Tr n Văn T với bà Nguy n Thị Đ, nhưng h sơ về chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và ông Tr n Văn T đã thất l c nên chưa xác định. Tuy nhiên, vào năm 200 ông H xây dựng nhà và sử dụng ph n đất đang c tranh chấp, lúc này ông T1 còn sống nhưng không c phản đối, không c tranh chấp gì.

Bà Tr n Thị tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà Nguy n Thị Đ t i vị tr số 3 c diện t ch 60,1 m2. Ngu n gốc đất tranh chấp bà Đ nhận chuyển nhượng của ông Tr n Văn T vào năm 1999. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1452, y ban nhân dân huyện K cấp cho bà vào ngày 27/02/2015, cấp đất đến đường Cách M ng Tháng Tám, ch a lộ giới vào 1,5m.

Như vậy, việc nguyên đơn cho rằng các bị đơn tự ý lấn chiếm đất của nguyên đơn là hoàn toàn không c cơ sở. Theo xác nhận t i Công văn số 27 2/ BND ngày 23/8/2018 y ban nhân dân thị xã C trả lời việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bị đơn là đúng trình tự, quy định của pháp luật. iêng đối với hộ của bà ưu Thị H do Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường không c lưu trữ h sơ; Trường hợp của hộ ông Phan Văn H do không c giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Tr n Văn T nên chưa c cơ sở thẩm tra h sơ về trình tự thủ tục cấp giấy.

Về ph n cây tr ng trên các ph n đất tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị đơn c trách nhiệm b i thường cho gia đình bà Tr n Thị S. T i biên bản xem xét, thẩm định t i ch nguyên đơn và các bị đơn xác nhận thực tế đang t n t i các lo i cây như tre, chuối, tràm Đà l t do bà Tr n Thị tr ng. Do vậy, để tránh kéo dài tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết để các bị đơn c quyền sử dụng và b i thường bằng giá trị cho bà là c cơ sở, nên được Hội đ ng xét xử chấp nhận, giữ nguyên ph n này.

Theo biên bản xem xét, thẩm định t i ch ngày 13 tháng 3 năm 2018 và theo Mãnh tr ch đo địa ch nh số 51/TTKTTN MT ngày 17 tháng 5 năm 2018, thể hiện ph n cây tr ng trên các ph n đất tranh chấp như sau:

Ph n đất bà Tr n Thị tranh chấp với bà ưu Thị H t i vị tr số 1 c 05 cây tràm biểm lo i A, 03 cây tràm biển lo i B. Ngày 17 tháng 9 năm 2018, bà Tr n Thị đã đốn 02 cây tràm lo i A, ông Võ Văn Đ (ch ng của bà H) đốn 02 cây tràm lo i A và 03 cây tràm lo i B. Như vậy, t i vị tr tranh chấp chỉ còn l i 01 cây tràm lo i A. T i biên bản thẩm định thể hiện các bên đương sự c sự tranh chấp về cây tr ng trên đất, nguyên đơn cho rằng gia đình nguyên đơn tr ng, còn bà H và ông Đ cho rằng tự mọc. Tuy nhiên qua thực tế, nguyên đơn c sử dụng cây, bà H và ông Đ th a nhận. Do đ , c cơ sở buộc ông Đ và bà H b i thường giá trị cây cho nguyên đơn với số tiền như sau: Bà H trả 300.000đ ng, ông Đ trả 1.230.000đ ng.

T i ph n đất bà Tr n Thị tranh chấp với ông âm Văn , t i vị tr số 2, c 55 cây tre lo i C do bà tr ng nhưng không thể di dời được. Đến giai đo n xét xử phúc thẩm, các cây tre ông đốn và đã đào gốc. Do đ , ông phải trả giá trị cho nguyên đơn với số tiền 220.000đ ng.

Ph n đất bà Tr n Thị tranh chấp với ông Nguy n Văn D, t i vị tr số 3, c 09 cây chuối lo i B, 0 cây chuối lo i C, do bà tr ng không thể di dời được. Đến giai đo n xét xử phúc thẩm, ông D đốn chuối và đã đào gốc. Do đ , ông D phải trả giá trị cho nguyên đơn với số tiền 375.000đ ng.

Ph n đất bà Tr n Thị tranh chấp với bà Ph m Thị N t i vị tr số 4, c 01 cây tràm biển lo i B và 03 cây tre lo i B, bà N được sử dụng và trả giá trị cho nguyên đơn với số tiền 252.000đ ng.

Ph n đất bà Tr n Thị tranh chấp với ông Phan Thanh H t i vị tr số 5, c 20 cây tre lo i A, 95 cây tre lo i B, 15 cây tre lo i C. ng H được quyền sử dụng số tre nêu trên và trả giá trị cho nguyên đơn 1.790.000đ ng.

Ph n đất bà Tr n Thị tranh chấp với ông Phan Thanh B t i vị tr số 6, c 02 cây chuối lo i C, 02 cây d a lo i C, 02 cây đu đủ lo i A. ng B được quyền sử dụng các lo i cây nêu trên và trả giá trị cho nguyên đơn với số tiền 520.000đ ng.

T những nhận định trên, Hội đ ng xét xử thống nhất với nhận định của đ i diện Viện kiểm sát, không chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án ph dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định không đúng nên điều chỉnh l i. Các nguyên đơn m i người phải chịu 300.000đ ng.

Do không chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn bà Tr n Thị , bà phải chịu án ph dân sự phúc thẩm.

Về chi ph thẩm định t i cấp phúc thẩm: Buộc bà Tr n Thị phải chịu, bà đã thực hiện xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

uật đất đai năm 1987, 1993, 2013.

Nghị quyết số 32 /201 / BTVQH14 ngày 30/12/201 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph , lệ ph Tòa án, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân c liên quan đến án ph và lệ ph Tòa án.

Không chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn bà Tr n Thị . Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

1/. Không chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn bà Tr n Thị , ông Lê Quang T, bà ê Thị H ng T về việc yêu c u các bị đơn: bà Nguy n Thị Đ trả l i ph n đất tranh chấp 1,3m2, ông Phan Văn H ph n đất c diện t ch 28,7m2, ông Phan Thanh B ph n đất c diện t ch 27,7m2, ông Phan Thanh H ph n đất c diện t ch 28,3m2, bà Ph m Thị N ph n đất c diện t ch 29,1m2, ông Nguy n Văn D ph n đất c diện t ch 8 , m2, ông âm Văn ph n đất c diện t ch 28,3m2, bà ưu Thị H ph n đất c diện t ch 100,9m2 c mãnh tr ch đo đ c kèm theo).

2/. Các bị đơn bà ưu Thị H, ông âm Văn , ông Nguy n Văn D, bà Ph m Thị N, ông Phan Thanh H, ông Phan Thanh B được sử dụng cây tr ng trên ph n đất tranh chấp.

- Buộc bị đơn bà ưu Thị H trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 300.000 đ ng Ba trăm nghìn đ ng).

- Buộc bị đơn ông âm Văn trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 220.000 đ ng Hai trăm hai mươi nghìn đ ng).

- Buộc bị đơn ông Nguy n Văn D trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 375.000 đ ng Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đ ng).

- Buộc bị đơn bà Ph m Thị N trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 252.000 đ ng Hai trăm năm mươi hai nghìn đ ng).

- Buộc bị đơn ông Phan Thanh H c đ i diện theo ủy quyền bà Huỳnh Cẩm T trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 1.790.000 đ ng Một triệu bảy trăm ch n mươi nghìn đ ng).

- Buộc bị đơn ông Phan Thanh B trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 520.000 đ ng Năm trăm hai mươi nghìn đ ng).

- Buộc người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan ông Võ Văn Đ trả l i giá trị cây tr ng cho bà S, ông T, bà T số tiền 1.230.000 đ ng Một triệu hai trăm ba mươi nghìn đ ng).

3/. Về án ph :

- Án ph dân sự sơ thẩm: Buộc các nguyên đơn bà Tr n Thị , ông ê Quang T, bà ê Thị H ng T m i người phải chịu 300.000đ ng ba trăm nghìn đ ng). Được khấu tr án ph vào số tiền các nguyên đơn đã nộp t m ứng 3.000.000đ ng (ba triệu đ ng) theo biên lai thu số 0015404 ngày 25/12/2017, t i Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C. Các nguyên đơn bà Tr n Thị , ông ê Quang T, bà ê Thị H ng T được nhận l i 2.100.000đ ng hai triệu một trăm nghìn đ ng).

- Về án ph dân sự phúc thẩm: Buộc bà Tr n Thị phải chịu 300.000đ ng Ba trăm nghìn đ ng). Chuyển 300.000đ ng ba trăm nghìn đ ng) bà đã nộp t m ứng án ph theo biên lai thu số 0019251 ngày 12/11/2018 t i Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C thành án ph .

4/. Về chi ph tố tụng:

Về chi ph xem xét, thẩm định; định giá tài sản t i Tòa án cấp sơ thẩm: Các nguyên đơn bà Tr n Thị , ông ê Quang T, bà ê Thị H ng T phải chịu 15.507.1 2đ ng mười lăm triệu năm trăm linh bảy nghìn một trăm sáu mươi hai đ ng), đã thực hiện xong.

Về chi ph xem xét, thẩm định t i Tòa án cấp phúc thẩm: Buộc bà Tr n Thị phải chịu 3.030.000đ ng ba triệu không trăm ba mươi nghìn đ ng), bà đã thực hiện xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của uật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c cưỡng chế thi hành án theo quy định của uật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của uật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án, ngày 11/9/2019.

Cỡ chữ