vanban.org

Bản án 116/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 31/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Quang C: 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2018. Phạt bị cáo Lê Quang C số tiền: 7.000.000đ.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bi cao C pham toi - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 116/2018/HSST
Ngày: 31 - 5- 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA- TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa:

Bà Hồ Thị Minh Hạnh Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Xuân Tính

2. Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Liên- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Lê Khánh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 31-5-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 191/2018/TLST- HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Quang C - Sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: SN 76 phố P, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang H (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; vợ: Đinh Thị A, có 02 con lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ ngày 30/01/2018, tạm giam ngày 08/02/2018. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14h ngày 30/01/2018, tại khu vực ngõ 116 đường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thanh Hóa trong khi làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Lê Quang C đang mang ma túy đi bán. Vật chứng thu giữ của C: 05 gói ni lon màu trắng kích thước mỗi gói khoảng 1x1cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. Lê Quang C khai đó là 05 gói ma túy đá C cầm đi bán nhưng chưa bán được thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đưa C về trụ sở Công an phường Đ lập biên bản và niêm phong số ma túy đá thu được là vật chứng vụ án theo quy định.

Kết luận giám định số 421/MT-PC54 ngày 02/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng 0,623g, loại: Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Lê Quang C khai nhận: bản thân có sử dụng ma túy đá và có ý định mua ma túy đá để bán kiếm lời nên khoảng 13 giờ ngày 30/01/2018 C một mình đi đến nhà anh T ở thôn T, xã Đ, thành phố T để mua ma túy. Tại nhà anh T, C gặp và hỏi mua được của T 01 gói ma túy đá với giá 400.000đ. Sau đó, C chia hết gói ma túy vừa mua được thành 05 gói nhỏ ma túy có kích thước đều khoảng 1x1cm. C cất 04 gói ma túy vào trong túi quần bên phải và cất 01 gói ma túy còn lại vào bên trong túi quần bên trái rồi mang đi để khi có người hỏi mua ma túy thì bán, C định bán mỗi gói ma túy với giá 200.000đ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi C đi vào ngõ 116 đường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa thì bị Công an thành phố Thanh Hóa phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên tay Chiến 05 gói ma túy đá đang cất giấu chưa kịp bán là tang vật vụ án.

Trên cơ sở lời khai của Lê Quang C cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và triệu tập đối với Lê Trọng T để đấu tranh làm rõ hành vi. Tại cơ quan điều tra, Lê Trọng T báo cáo không bán ma túy cho C và T cũng không bán ma túy cho bất kỳ ai. Tiến hành đối chất giữa C và T nhưng T vẫn khẳng định không bán ma túy cho C nên không có căn cứ để xử lý.

Tại cáo trạng số 110/CT-VKSTP ngày 19/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Quang C về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa, trong lời luận tội, đại diện VKSND TP. Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo C mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy là tang vật vụ án.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1.Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quang C khai nhận: Hồi 14h ngày 30/01/2018, tại khu vực ngõ 116 đường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, khi C đang đem đi bán 05 gói ma túy đá có trọng lượng 0,623g, loại Methamphetamine thì bị phát hiện, bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Quang C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng pháp luật].

[2. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận bị cáo đã có hành vi phạm tội. Nhân thân bị cáo: ngày 25/4/2002 Tòa phúc thẩm tại Hà Nội, TAND Tối cao xử phạt 08 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, (bị cáo ra trại ngày 31/01/2008); đối với khoản tiền phạt 5 triệu đồng, 50.000đ án phí HSST và 50.000đ án phí HSPT qua xác minh không tìm thấy hồ sơ thi hành án của Lê Quang C (biên bản xác minh ngày 06/02/2018 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thanh Hóa) nên theo nguyên tắc cơ lợi cho bị cáo không tính tiền án đối với bị cáo. Tuy nhiên, việc bị cáo tiếp tục phạm tội về ma túy chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục].

[3. Tuy nhiên, cần xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo . Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt. Bị cáo phạm tội về ma túy, có tính chất vụ lợi nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt tiền bị cáo với số tiền 7.000.000đ].

[4.Về vật chứng: 0,579g Methamphetamine (tang vật còn lại sau giám định) căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy].

[ 5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật].

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Quang C: 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2018.

Phạt bị cáo Lê Quang C số tiền: 7.000.000đ.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,579g Methamphetamine tại phong bì ma túy niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự- Công an Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự, có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đăng và Lê Nhân Dân.

Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 111/THA ngày 23/4/2018 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ