vanban.org

Bản án 116/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 16/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: bị cáo Trần Quốc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc N 12 (mười hai) tháng tù.Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/7/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN QUỐC N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 116/2018/HSST
Ngày: 16/10/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trƣơng Quốc Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Dƣơng Tấn Đấu

2/ Ông Nguyễn Phƣớc Lộc

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Sơn Thái Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Quốc N, sinh năm: 1992, tại: PQ, Kiên Giang; Nơi cư trú: khu phố C, thị trấn DĐ, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn L và bà Đặng Thị Hồng H và có vợ tên Lê Thị Thanh T, con 01 người sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 21/7/2018. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 40 phút ngày 21/7/2018 Công an huyện PQ tiến hành kiểm tra hành chính tiệm nét không tên thuộc khu phố B, thị trấn DĐ, huyện PQ thì phát hiện trong túi quần của Trần Quốc N có 02 bịch nylon màu trắng, N khai nhận đó là ma túy đá do N mua của T nhỏ vào lúc 13 giờ ngày 21/7/2018 tại tiệm nét với giá 600.000 đồng.

*Vật chứng thu giữ: 01 bịch ny lon màu trắng có kích thước 1,5 cm x 02 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất; 01 bịch nylon màu trắng có kích thước 01 cm x 1,5 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 353681086165966

* Tại bản kết luận giám định số 640/KL-KTHS ngày 27/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại methamphetamine, Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3427 gam Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 640/KL-KTHS ngày 27/7/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Bản cáo trạng số: 108/CT-VKSPQ ngày 24 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ đã truy tố bị cáo Trần Quốc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Quốc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Quốc N từ 12 đến 18 tháng tù giam.

Về tang vật: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,3271 gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu sau giám định được niêm phong; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen số Imel: 353681086165966.

Đối với T nhỏ là người bán ma túy cho N, hiện chưa rõ nhân thân và nơi cư trú khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ truy tố, không có ý kiến gì và có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện PQ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận vào khoảng 13 giờ 40 ngày 21/7/2018 Trần Quốc N tàng trữ 0,3271 gam ma túy loại Methamphetamine trong túi quần thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vào thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng cần ma túy để sử dụng mà bị cáo bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà Nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, cũng tạo điều kiện để bị cáo cai nghiện từ bỏ ma túy và cũng phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà thai báo, ăn năn hối cải nên có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,3271 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu được niêm phong; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imel 1: 353681086165966.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: bị cáo Trần Quốc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc N 12 (mười hai) tháng tù.Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/7/2018.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,3271 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu được niêm phong; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imel 1: 353681086165966.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện PQ theo biên bản giao nhận ngày 24/9/2018).

3. Về án phí căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ