- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH _______________________ Bản án số: 116/2018/HS-ST Ngày: 26 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Phi Long
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễ n Thị Ngọ c
- Ông Nguyễ n Văn Quý nh
- Thư ký phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Thu Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tò a công khai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2018/HSST-QĐ ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thà nh phố M để tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ l
ý số 111/2018/TLST - HS, ngày 29 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễ n Văn S (tên gọ i khá c: không)
Sinh ngà y: 11 tháng 9 năm 1982 tại M, Quảng Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thườ ng trú - nơi cư trú: Thôn 7, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệ p: Không; trình độ văn hóa: 7/12; tên bố : Nguyễn Xuân L (sinh năm: 1962); tên mẹ : Nguyễn Thị L (sinh năm: 1963); tên vợ Nguyễn Thị H (sinh năm: 1986); có 01 con, sinh năm 2003;
Tiền án: Ngày 11/8/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/3/2017.
Tiền sự: Ngày 07/11/2017, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường H, thành phố M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Nhân thân: Ngày 10/8/2011, Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cá o bị bắt quả tang ngày 07/6/2018, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
Ngườ i chứng kiến: Anh Nguyễ n Thà nh L, sinh năm: 1988
Nơi cư trú : Khu 7, phườ ng H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ bả n cá o trạ ng số 119/CT-VKS-MC ngà y 29/8/2018 của Viện kiể m sá t nhân dân thà nh phố M cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ á n đượ c thể hiệ n như sau:
Nguyễ n Văn S là đối tượng nghiện ma túy nên ngày 07/6/2018 khi có nhu cầ u sử dụ ng S đã gọi điện thoại cho đối tượng tên là Thành (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua ma túy. Thành đồng ý và hẹn S đến huyện H, tỉnh Quảng Ninh để giao dịch mua bán. Sau đó S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu DETECH mang biển kiểm soát 14F4-3861 đến gặp và mua của Thành 02 túi ma tuý “đá” với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua, S cất giấu 02 túi ma túy trong người rồi điều khiển xe mô tô quay về thành phố M. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, S đến nhà nghỉ H thuộc khu 7, phường H, mục đích thuê phòng để sử dụng ma túy, thì bị Công an phường H kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang , thể hiệ n: Hồ i 17 giờ 00 phút ngày 07/6/2018, tổ công tá c Công an phườ ng H kiể m tra hà nh chí nh tạ i nhà nghỉ H thuộ c khu 7, phườ ng H, thành phố M. Khi tổ công tá c đang kiể m tra hành chính thì có một nam thanh niên đi và o nhà nghỉ có nhiề u biể u hiệ n nghi vấ n, tổ công tá c đã yêu cầ u xuấ t trì nh chứ ng minh nhân dân để kiể m tra thì nam thanh niên nà y không xuấ t trì nh đượ c . Tổ công tá c yêu cầ u nam thanh niên nà y bỏ đồ trong tú i quầ n á o ra kiể m tra thì phá t hiệ n trong tú i quầ n bên phải phía trước của nam thanh niên này có 01 túi nilon màu trắng kích th ước khoảng (1x3) cm và bên trong tú i quầ n phí a sau bên phả i có 01 túi nilon màu trắ ng kí ch thướ c khoả ng (4,5x4,8)cm, bên trong cá c tú i nilon đề u chứ a chấ t tinh thể mà u trắ ng nghi là ma tú y. Nam thanh niên khai tên Nguyễ n Văn S (có lý lịch như trên). Ngoài ra còn tạm giữ của Sơn: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH biển kiểm soát 14F4-3861; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.
Tại Bản kết luận giám định số 470/GĐMT ngày 11/6/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật kí hiệu M1, M2 ghi thu của Nguyễn Văn S là ma túy; Loại: Methamphetamine; Tổng khối lượng: 1,973g (một phẩy chín bẩy ba gam).
Trong quá trình điều tra, Nguyễ n Văn S khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Người chứng kiến anh Nguyễ n Thà nh L có nội dung lời khai thể hiện: Khoảng 17 giờ ngà y 07/6/2018, anh đượ c chứng kiến tổ công tá c công an phườ ng H đang kiể m tra hà nh chí nh mộ t nam thanh niên (sau nà y biế t tên là Nguyễ n Văn S). Quá trình kiểm tra, anh thấ y tổ công tá c phá t hiệ n thu giữ các vật chứng trong vụ án và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản cáo trạng số 119/CT-VKS-MC, ngày 29/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễ n Văn S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điể m c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễ n Văn S nhận tội và khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Nguyễ n Văn S ; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điể m c k hoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điể m h khoản 1 Điề u 52 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễ n Văn S từ 24 tháng đến 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, ngày 07/6/2018.
Về hình phạt bổ sung: không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫ u vậ t là ma tú y hoà n lạ i sau giám định; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.
Đối với chiếc x e mô tô nhãn hiệu DETECH mang biển kiểm soát 14F4-3861, quá trình điều tra, xác minh chưa là m rõ được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục điề u tra làm rõ xử lý sau.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấ n và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Đá nh giá nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang , các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người chứng kiến, trên cơ sở kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 07/6/2018, tại nhà nghỉ H thuộc khu 7, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn S có hành vi cất giấu trái phép 1,973g (một phẩy chín bẩy ba gam) Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bả n thân thì bị bắt quả tang.
Các chứng cứ buộc tội của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễ n Văn S đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điể m c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậ y, quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M là có căn cứ pháp lý.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
[3] Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiể m cho xã hộ i , xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiệ n ma tú y của bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộ i, vì vậy cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
[4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cá o khai bá o thà nh khẩ n và tại phiên tòa bị cáo tiế p tụ c thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 11/8/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm phạt Nguyễ n Văn S 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Bị cáo c hấp hành xong hình phạt tù ngày 05/3/2017, chưa đượ c xó a á n tí ch nên lầ n phạ m tộ i nà y là tá i phạ m , cầ n á p dụ ng điể m h khoả n 1 Điề u 52 Bộ luật Hình sự khi quyế t đị nh hì nh phạ t đố i vớ i bị cá o.
- Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệ p, thu nhập không ổ n đị nh. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- Cơ quan công an thu giữ của bị cáo Nguyễ n Văn S 1,973g (một phẩy chín bẩy ba gam) Methamphetamine, hoàn lại sau giám định là 1,85g; thu giữ 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (1x3) cm và 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (4,5x4,8)cm là các vật chứa đựng m a tú y. Số ma túy hoàn lại sau giám định và các vật trên là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (mộ t) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ củ a Nguyễ n Văn S , dùng liên lạc liên quan đế n việ c phạ m t ội, nên cầ n tị ch thu sung vào ngân sá ch nhà nước.
- 01 (mộ t) chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH biển kiểm soát 14F4-3861 tạm giữ của Nguyễ n Văn S , quá trình điều tra , xác minh chưa là m rõ được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục điề u tra xử lý sau.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án có đối tượng tên Thành là người bán ma túy cho Nguyễ n Văn S , quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điể m c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điể m h khoản 1 Điề u 52 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễ n Văn S 30 (ba mươi) tháng tù, thờ i hạ n chấ p hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: 07/6/2018.
II. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điể m a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Tịch thu tiêu hủy: 1,85g (mộ t phẩ y tá m năm gam) Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong phong bì số 470/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh; 02 vỏ túi nilon màu trắng đượ c niêm phong cùng phong bì theo quy đị nh.
2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Nguyễ n Văn S.
Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố M quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 131/2018/THA, ngày 31/8/2018.
III. Về án phí:
Căn cứ vào khoả n 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộ c bị cá o Nguyễ n Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
IV. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoả n 1 Điều 331 và khoả n 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt b ị cáo, báo cho b ị cáo biế t có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉ nh Quả ng Ninh; - VKSND thành phố M; - Công an thành phố M; - Bị cáo; - Sở tư pháp Tỉnh Quảng Ninh; - Thi hành án HS+DS; - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁ N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký ) Lê Phi Long |