vanban.org

Bản án 116/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H đối với bị đơn anh Đặng Nguyễn Phƣơng T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H đƣợc ly hôn với anh Đặng Nguyễn Phƣơng T (Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quy n số 01, ngày 26/01/1996 do Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng) cấp). Về con chung: Hiện nay con chung tên Đặng Nhật T, si… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu H - Đặng Nguyễn Phương T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H đối với bị đơn anh Đặng Nguyễn Phƣơng T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 116/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24-9-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Minh.

2. Ông Nguyễn Đình Thế.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Đình Đông Quân - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Bƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu - i m sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 629/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 128/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1972; thƣờng trú: Số 6/14, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Đặng Nguyễn Phƣơng T, sinh năm 1972; thƣờng trú: Số 6/14, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Vắng mặt)

3. Người làm chứng: Đặng Nhật T, sinh năm 1994; thƣờng trú: Số 6/14, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/6/2018 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H đã trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Nguyễn Phƣơng T tìm hi u nhau khoảng 03 năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quy n số 01, ngày 26/01/1996.

Sau khi kết hôn, chị H và anh T sinh sống tại số 6/14, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2008 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chung thủy, có ngƣời phụ nữ khác nên bỏ nhà đi một thời gian, không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn, thƣờng xuyên uống rƣợu và gây chuyện chửi mắng chị. Năm 2015, chị H nộp đơn xin ly hôn, nhƣng sau đó chị muốn cho anh T cơ hội hàn gắn nên đã rút đơn. Tuy nhiên anh T vẫn không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không th giải quyết. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không th hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh T có 02 con chung là Đặng Nhật T, sinh ngày 16/8/1994 và Đặng Nhật T, sinh ngày 03/11/1998. Hiện tại 02 con chung đã thành niên nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về giao ngƣời nuôi con và cấp dƣỡng.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình: Chị H chịu theo quy định pháp luật.

- Quá trình tố tụng, bị đơn anh Đặng Nguyễn Phƣơng T đã đƣợc Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập làm việc đ làm bản tự khai, cung cấp chứng cứ vào ngày 27/7/2018; tham gia phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17/8/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 06/9/2018 và ngày 24/9/2018, nhƣng anh T vắng mặt không có lý do.

- Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An ngày 26/7/2018 tại UBND phƣờng A th hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng A không tiếp nhận thông tin từ cơ sở phản ánh về mâu thuẫn vợ chồng và về vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đặng Nguyễn Phƣơng T, đồng thời không tiếp nhận đơn yêu cầu hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

- Lời khai của ngƣời làm chứng Đặng Nhật T: Tôi là con ruột của ba tên Đặng Nguyễn Phƣơng T, mẹ tên Nguyễn Thị Thu H, ngoài ra tôi còn có em trai là Đặng Nhật T, sinh năm 1998, hiện nay em tôi đang đi nghĩa vụ quân sự. Mẹ tôi làm nội trợ, ba tôi làm công nhân ở xa, khoảng 02 tuần mới về nhà một lần, mọi việc ở nhà đều do mẹ lo. Quá trình chung sống tôi thấy ba mẹ hay cãi nhau, lý do là ba tôi hay nhậu nhẹt, không phụ giúp gia đình, không phụ mẹ chăm lo cho các con, ít khi ở nhà, mẹ tôi khuyên nhủ nhiều lần nhƣng ba tôi không thay đổi, việc này diễn ra thời gian dài. Nay mẹ tôi nộp đơn xin ly hôn với ba tôi, tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Riêng tôi đã thành niên nên quyết định sống với mẹ đ phụ giúp, chăm sóc cho mẹ.

- Ý kiến của đại diện Viện i m sát nhân dân thị xã Dĩ An tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Đặng Nguyễn Phƣơng T đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không tham gia phiên tòa, căn cứ đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, chị H và anh T có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn trong một thời gian dài, không th hàn gắn. Do đó, chị H khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T là có căn cứ. Về con chung đã thành niên nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Đặng Nguyễn Phƣơng T nên đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Đặng Nguyễn Phƣơng T đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không tham gia phiên tòa. Căn cứ đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đặng Nguyễn Phƣơng T là vợ chồng, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quy n số 01, ngày 26/01/1996 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Chị H xác định trong quá trình chung sống với anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không th tiếp tục chung sống đƣợc với nhau. Năm 2015, chị H đã nộp đơn xin ly hôn, nhƣng sau đó chị muốn vợ chồng có cơ hội hàn gắn nên đã rút đơn nhƣng anh T vẫn không thay đổi. Chị H trình bày những mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, đ đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải tôn trọng, thƣơng yêu, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát tri n về mọi mặt. Do tình trạng mâu thuẫn kéo dài từ năm 2008 đến nay nên chị H xác định không th tiếp tục quan hệ hôn nhân và không còn tình cảm với anh T. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập đến làm việc nhƣng anh T đều vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên hòa giải đ hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh T cũng không có văn bản nào th hiện thiện chí đƣa ra phƣơng pháp hàn gắn mối quan hệ giữa anh và chị H. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị H và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nay chị H yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đặng Nguyễn Phƣơng T có 02 con chung là Đặng Nhật T, sinh ngày 16/8/1994 và Đặng Nhật T, sinh ngày 03/11/1998. Hiện tại 02 con chung đã thành niên nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về giao ngƣời nuôi con và cấp dƣỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện i m sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí hôn nhân gia đình: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ đi m a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H đối với bị đơn anh Đặng Nguyễn Phƣơng T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H đƣợc ly hôn với anh Đặng Nguyễn Phƣơng T (Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quy n số 01, ngày 26/01/1996 do Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng) cấp).

- Về con chung: Hiện nay con chung tên Đặng Nhật T, sinh ngày 16/8/1994 và Đặng Nhật T, sinh ngày 03/11/1998 đã thành niên, chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung, nợ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân gia đình: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đƣợc khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019603 ngày 14/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày k từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ