vanban.org

Bản án 116/2018/DS-ST — Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 10/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Bà Phạm Thị M kiện đòi ông Hồ Văn Son trả đất"
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2018/DS-ST
Ngày: 10 – 9 – 2018
“V/v đòi tài sản là QSDĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chiến

2. Ông Nguyễn Việt Bằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thu Hà – Kiểm sát viên.

Từ ngày 07 đến ngày 10 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 131/2017/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2017 về “đòi tài sản là quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2018/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm: 1936. Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã An X, thành phố C, tỉnh Y.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hồ Quý X, sinh năm: 1963, trú tại: Ấp 3, xã An X, thành phố C, tỉnh Y, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 01 tháng 3 năm 2017 (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Nuôi, địa chỉ cư trú: Số 97C, Trương Phùng Xuân, khóm 5, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, là Luật sư cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Ông Hồ Văn S1, sinh năm: 1960 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã An X, thành phố C, tỉnh Y.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Chí Thiện, địa chỉ cư trú: Số 122, Lý Tự Trọng, khu Đô thị Tài Lộc, ấp Bà Điều, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, là Luật sư của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn luật sống thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Lý Kim Kh, sinh năm: 1968 (xin vắng mặt). Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã An X, thành phố C, tỉnh Y.

+ Ông Từ Văn H, sinh năm: 1980 (xin vắng mặt). Địa chỉ cư trú: Ấp 8, xã An X, thành phố C, tỉnh Y.

+ Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Y. Địa chỉ cư trú: Số 77, Ngô Q, phường K, thành phố C, tỉnh Y.

Người đại diện hợp pháp của UBND thành phố C: Ông Lê Thanh D – Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường thành phố C, là người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban (Văn bản ủy quyền ngày 27 tháng 4 năm 2018 (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình hòa giải vụ án và tại phiên tòa, các đương sự trình bày quan điểm và yêu cầu như sau:

- Đại diện nguyên đơn – Ông Hồ Quý X trình bày: Cha ông là Hồ Văn S, mẹ ông là Phạm Thị M có tạo lập phần đất tổng diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cha ông đứng tên là 10.990m2, trong đó có 300m2 đất thổ cư đã cất nhà ở, 4.190 m2 đất lập vườn, 6.500m2 đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C. Ngoài ra còn 8.945m2 đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C do vợ, chồng ông S1 đứng tên và một số tài sản sinh hoạt gia đình như máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, tủ áo, bếp gas, bàn, ghế … Năm 2005, cha ông chết không để lại di chúc, phần đất thổ cư và lập vườn các anh, chị, em của ông đã thỏa thuận phân chia xong, chưa tách quyền sử dụng đất nhưng phần này không ai tranh chấp và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phần đất còn lại 6.500m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C và phần đất 8.945m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C do em ruột ông là Ông Hồ Văn S1 quản lý, sử dụng. Mặt khác, theo sơ đồ đo đạc ngày 26/9/2017 của Trung tâm kỹ thuật - công nghệ - quan trắc tài nguyên và môi trường tỉnh Cà Mau thì ông S1 còn quản lý, sử dụng phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 12.403,7m2 tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C nhưng vợ, chồng ông S1 không chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ già mà còn ngược đãi, hành hạ mẹ ông, không thể sống chung được.

Từ nội dung trên, ông đại diện mẹ ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S1 và bà Kh giao trả phần đất diện tích 6.500m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C; 8.945m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này; 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế; ngăn ngôi nhà hiện tại để mẹ ông ở phía trên, vợ, chồng ông S1 ở phía dưới.

Tại phiên tòa hôm nay, ông X đại diện bà M xin rút lại yêu cầu đòi ông S1, bà Kh giao trả phần đất diện tích 6.500m2 đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C; 8.945m2 đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C; 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế, đồng thời ông bổ sung yêu cầu ông S1 và bà Kh giao trả phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 12.403,7m2 tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C.

- Bị đơn – Ông Ông Hồ Văn S1 trình bày: Từ thuở nhỏ cho đến bây giờ ông sống cùng cha, mẹ ruột của ông tại ấp 3, xã An X, thành phố C. Trước đây, ông cùng cha ông khai phá, cải tạo phần đất diện tích 10.990m2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cha ông. Ngoài ra, vợ, chồng ông còn tự khai phá thêm phần đất theo đo đạc thực tế là 12.403,7m2 tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C nhưng chưa kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất. Đối với phần đất trồng lúa diện tích 8.945m2 tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C do vợ, chồng ông sang nhượng của ông Nguyễn Văn Sấn và bà Lê Thị Nhãn năm 1996 (có xác nhận của bà Nhãn), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ, chồng ông. Sau khi cha ông chết (2005), ông vẫn ở chung để chăm sóc, phụng dưỡng mẹ già, không hề ngược đãi, hay đối xử tệ bạc với bà. Từ khi ông X đi bộ đội quay về mới xúi giục mẹ ông khởi kiện vợ, chồng ông đòi lại nhà, đất và các tài sản khác nên ông không đồng ý. Vì căn nhà từ trước đến nay vợ, chồng và các con ông cùng chung sống, sinh hoạt chung với cha, mẹ của ông, nay cha ông chết thì căn nhà này vẫn thuộc quyền sở hữu chung của mẹ ông, của ông và các anh, chị, em của ông. Hơn nữa, quá trình sử dụng, ông đã tu sửa nhiều lần và cơi nới, xây dựng thêm nhà sau, mái che bên hông nhà để sử dụng. Nếu ngăn ngôi nhà chính ra thì rất bất tiện trong việc quản lý, sử dụng, vì phần phía trước căn nhà để thờ cúng ông, bà tổ tiên, cha ông, hằng ngày hương khói, đám tiệc, nếu ngăn ra thì rất chật hẹp, không có nhà vệ sinh, không nhà bếp, mẹ ông không thể sinh hoạt một mình được. Hơn nữa, từ khi mẹ ông tự lấy tủ chặn ngang cửa phòng khách để ngăn ra thì bà không sử dụng mà khoá cửa rồi đến nhà ông X ở nên ông không thể vào quét dọn, thắp hương cho cha ông được, có thể cháy nổ rất nguy hiểm. Đối với 6.500m2 đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C hiện đã sang lắp thành đất lập vườn, các anh, em cũng tự phân chia, nay ông X xin rút lại yêu cầu, ông không có ý kiến gì; riêng 8.945m2 đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C của vợ, chồng ông sang nhượng và đã được cấp quyền sử dụng, nay ông X xin rút lại yêu cầu nên ông cũng không có ý kiến gì; còn phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 12.403,7m2 tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C do ông tự khai phá, cải tạo, bồi đắp và quản lý, sử dụng khoảng năm 1987 đến nay nên ông tuyệt đối không thể giao trả lại theo yêu cầu của mẹ ông. Các tài sản khác như 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế, ông X đã rút lại yêu cầu nên ông không có ý kiến.

Tại phiên toà, ông S1 thống nhất giao lại toàn bộ căn nhà chính tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C cho bà M quản lý, sử dụng; ông sẽ xây dựng ngôi nhà khác trên phần đất để vợ, chồng, con ông sử dụng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Lý Kim Kh trình bày: Bà về chung sống vợ, chồng với ông S1 năm 2002 nên quá trình khai phá, sử dụng đất bà không nắm rõ. Nay ông S1 có ý kiến như thế nào thì bà thống nhất theo ý kiến của ông S1, không có ý kiến khác, đồng thời bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Ông Từ Văn H trình bày: Ông có thuê phần đất khoảng 07 công của ông S1 tại ấp 8, xã An X, thành phố C để trồng lúa từ năm 2016 đến nay, mỗi công giá 1.200.000đ, cuối mùa vụ sẽ thanh toán. Trường hợp xác định đất của ông S1 thì ông tiếp tục thuê để canh tác, nếu xác định đất của bà M mà bà tiếp tục cho thuê thì ông vẫn thuê sử dụng, nếu không cho thuê thì ông trả lại. Do bận việc nên ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Đại diện UBND thành phố C không có ý kiến và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

NH N Đ NH CỦA T A N:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Lý Kim Kh, ông Từ Văn H và ông Lê Thanh D - đại diện UBND thành phố C xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo luật định.

[2] Về nội dung: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là “đòi tài sản”. Cụ thể, tại đơn khởi kiện ngày 23/3/2017, bà M kiện ông S1 để đòi lại phần đất diện tích 6.500m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C; 8.945m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này; 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế; ngăn ngôi nhà hiện tại thành chỗ riêng biệt để bà ở phía trên, vợ, chồng ông S1 ở phía dưới.

Tại phiên tòa hôm nay, ông X đại diện bà M xin rút lại yêu cầu đòi ông S1, bà Kh giao trả phần đất diện tích 6.500m2 đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C; 8.945m2 đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C; 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế, đồng thời ông bổ sung yêu cầu ông S1 và bà Kh giao trả phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 12.403,7m2 tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C.

[3] Xét thấy căn nhà đang cất trên phần đất thổ cư tại ấp 3, xã An X, thành phố C là của ông S, bà M xây dựng khoảng năm 1998. Căn nhà này do vợ, chồng bà M; vợ, chồng ông S1 và các con ông S1 cùng chung sống, sinh hoạt, sử dụng chung đối với toàn bộ diện tích ngôi nhà. Quá trình sử dụng, căn nhà xuống cấp nên ông S1 có sửa chửa phần nhà chính, xây dựng thêm căn nhà sau và cơi nới thêm phần mái hiên bên hông nhà để thông thoáng, đủ diện tích rộng rãi sử dụng. Căn nhà này là một khối thống nhất, có phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, nhà vệ sinh đều sử dụng chung cho các thành viên trong hộ gia đình, không thể tách rời từng phần vì không đảm bảo diện tích và điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho từng hộ gia đình. Bên cạnh đó, căn nhà hiện nay đã xuống cấp, hư hỏng nặng như thân cột bị bong, nứt không thể chịu lực lâu dài, mưa, bảo lớn sẽ ảnh hưởng nên cần phải tiến hành sửa chữa hoặc xây dựng mới thì mới đảm bảo được việc sử dụng lâu dài. Vì vậy, không thể cho ngăn biệt lập ngôi nhà ra làm 02 phần được. Mặt khác, căn nhà thuộc quyền sở hữu của ông S, bà M và vợ, chồng ông S1, được xây dựng trên phần đất của ông S, bà M, nay ông S chết không để lại di chúc nên quyền thừa kế phát sinh đối với bà M và các con của bà. Từ lúc ông S chết đến nay, bà và các con bà không tiến hành phân chia di sản thừa kế của ông S để lại nên tài sản này là đồng sở hữu chung của các thừa kế. Do đó, bà M không có quyền đòi lại căn nhà hay ngăn ngôi nhà cho bà sử dụng biệt lập.

[4] Song, tại phiên toà ông S1 thấy rằng trách nhiệm làm con phải chăm sóc, phụng dưỡng để báo hiếu công lao cha, mẹ, nay cha ông đã chết, còn mẹ ông không chịu chung sống cùng vợ, chồng ông. Vì thế, để tỏ lòng hiếu thảo, ông tự nguyện giao trả toàn bộ căn nhà chính có kích thước ngang 6,75m x dài 9,10m (từ phần trong vách tường giáp nhà sau trở ra trước) cho bà M quản lý, sử dụng đồng thời ông chịu trách nhiệm cung cấp nước sinh hoạt cho bà M sử dụng. Hội đồng xét xử thấy rằng đây là sự tự nguyện của ông S1, phù hợp đạo đức và pháp luật nên được chấp nhận. Tuy nhiên, căn nhà và đất này vẫn còn thuộc quyền thừa kế của những người còn lại nên việc bà M định đoạt tài sản này phải được sự đồng ý của họ. Đối với ông S1 sau khi giao căn nhà chính cho bà M thì gia đình ông không còn đủ diện tích để sử dụng. Do vậy, ông được quyền cơi nới, xây dựng nhà mới trên phần đất ông đang quản lý, sử dụng để cho gia đình ở và sinh hoạt, khi có phát sinh tranh chấp thừa kế sẽ được xem xét thành vụ án khác.

[5] Xét phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 12.403,7m2 tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 26/9/2017 của Trung tâm kỹ thuật - công nghệ - quan trắc tài nguyên và môi trường tỉnh Cà Mau nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông S. Đất này hiện do vợ, chồng ông S1, bà Kh quản lý sử dụng; qua xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ thì phần đất này chưa được cấp quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân nào. Theo đơn khởi kiện ngày 23/3/2017, bà M không đặt ra yêu cầu đối với phần diện tích đất này. Trong phiên toà ngày 04/4/2018, Hội đồng xét xử có đề cập vấn đề này nhưng đến nay nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cũng không có yêu cầu khởi kiện bổ sung mà tại phiên toà này mới trình bày yêu cầu. Căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Do đó, việc bổ sung yêu cầu của ông X vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu của bà M nên không có căn cứ để xem xét. Nếu có căn cứ và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì bà M có quyền khởi kiện thành vụ án khác, không đề cập xem xét trong vụ án này.

[6] Đối với yêu cầu đòi lại phần diện tích 6.500m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C; 8.945m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này; 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế, mặc dù tại đơn khởi kiện ngày 23/3/2017, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải hoàn trả các tài sản này. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn xin rút yêu cầu đối với phần diện tích 6.500m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X; 8.945m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này; 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế mà bị đơn đang quản lý, sử dụng. Xét thấy, việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Phạm Thị M về việc yêu cầu ông Hồ Văn S1 và bà Lý Kim Kh giao trả phần diện tích 6.500m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C; 8.945m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này; 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế. Nếu sau này bà Phạm Thị M khởi kiện lại và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Bà Phạm Thị M không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử.

[7] Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ bà Phạm Thị M có nghĩa vụ phải chịu toàn bộ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ hợp đồng dịch vụ trích đo lập bản vẽ hiện trạng thửa đất và hóa đơn thu tiền của Trung tâm kỹ thuật - công nghệ - quan trắc tài nguyên và môi trường thể hiện số tiền đo đạc của 02 thửa đất là 11.488.000đ, số tiền này ông X đại diện bà M đã thanh toán đủ cho cơ quan đo đạc nên không đặt ra xem xét.

[8] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đối với các tài sản là căn nhà, cây nước, tủ áo. Đối với phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 12.403,7m2, qua xác nhận của một số người dân ở địa phương đã thể hiện phần đất này do ông S và bà M khai phá nhưng trong đơn khởi kiện trước đây bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nay có phát sinh mới nên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để bà M khởi kiện bổ sung. Như nhận định ở mốc [5], mặc dù bà M có quyền thay đổi, bổ sung nhưng việc bổ sung đó không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, nếu chấp nhận cho bà M bổ sung sẽ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu bổ sung của đại diện theo ủy quyền của bà M tại phiên tòa là phù hợp.

[9] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: Nếu đại diện nguyên đơn bổ sung yêu cầu là vượt quá phạm vi khởi kiện và phạm vi ủy quyền là vi phạm khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu này của đại diện nguyên đơn mà chấp nhận yêu cầu rút lại một phần khởi kiện và đình chỉ xét xử theo khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận sự tự nguyện của bị đơn giao lại căn nhà cho nguyên đơn quản lý, sử dụng.

[10] Đối với phần đất tại ấp 8, xã An X, thành phố C được đại diện nguyên đơn rút lại yêu cầu nên ông H được tiếp tục thực hiện việc giao dịch với ông S1, bà Kh, đồng thời Hội đồng xét xử cũng không đề cập xem xét việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông S1 và bà Khuyên.

[11] Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu nguyên đơn đã rút lại; chấp nhận sự tự nguyện của bị đơn giao trả nhà cho nguyên đơn; nguyên đơn được miễn án phí nhưng phải chịu chi phí tố tụng khác theo quy định.

[12] Do yêu cầu đòi tài sản của bà M không được chấp nhận nên bà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà M là người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án nên xét miễn nộp án phí cho bà M là có cơ sở. Ông Ông Hồ Văn S1 và bà Lý Kim Kh không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

- Căn cứ các Điều 164, 166, 168, 169 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M kiện đòi ông Hồ Văn S1 và bà Lý Kim Kh giao trả phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 12.403,7m2 tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C và ngăn căn nhà ra thành 02 phần biệt lập cho bà M sử dụng.

2. Chấp nhận sự tự nguyện của ông S1 và bà Kh - giao lại toàn bộ căn nhà chính có kích thước ngang 6,75m x dài 9,10m (Từ phần trong vách tường giáp nhà sau trở ra phía trước) tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố C cho bà M quản lý, sử dụng đồng thời ông S1, bà Kh chịu trách nhiệm cung cấp nước sinh hoạt cho bà M sử dụng. Việc bà M định đoạt tài sản là nhà và đất này phải được sự đồng ý của các thừa kế của ông Hồ Văn S.

3. Ông Ông Hồ Văn S1 được quyền cơi nới, xây dựng nhà mới trên phần đất ông đang quản lý, sử dụng để cho gia đình ở và sinh hoạt, khi có phát sinh tranh chấp thừa kế sẽ được xem xét thành vụ án khác.

4. Đình chỉ xét xử đối với phần diện tích 6.500m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 3, xã An X, thành phố Cà Mau; 8.945m2, đất trồng lúa tọa lạc tại ấp 8, xã An X, thành phố C và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này; 01 máy Honda 5.5HP, 01 giếng khoan, 01 tủ áo, bếp gas, bàn, ghế. Nếu sau này bà Phạm Thị M khởi kiện lại và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Bà Phạm Thị M không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử.

5. Án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch: Bà Phạm Thị M được miễn nộp theo luật định, ngày 23 tháng 3 năm 2017, bà M đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 2838 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, được hoàn lại khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông S1 và bà Kh không phải chịu án phí.

6. Quyền kháng cáo: Bà M, ông S1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Kh, ông H và đại diện UBND thành phố C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ