vanban.org

Bản án 1159/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (trước đây là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) đối với bị đơn bà Thái Kim T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bị đơn bà Thái Kim T1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (trước đây là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) tổng cộng số tiền là: 177.384.200 đồng (một trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm tám mươi bốn nhìn hai trăm đồng), trong đó: nợ gốc là: 46.854.070 đồng và nợ lãi quá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Thái Kim T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (trước đây là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) đối với bị đơn bà Thái Kim T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – TP. HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1159/2026/DS-ST
Ngày: 04/6/2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tuyền

2. Bà Võ Thị Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cường – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp phải tham gia.

Ngày 04 tháng 6 năm 2026, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 936/2026/TLST-DS ngày 06/3/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1229/2026/QĐXXST-DS ngày 06/4/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1911/2026/QĐST-DS ngày 05/05/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (trước đây là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1); địa chỉ: 2 N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Công M – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S1 (Công ty S2).

Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S1: Ông Phan Tấn D – Chức vụ: Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc. Địa chỉ: 2 N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971; Địa chỉ: 2 N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Thái Kim T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: D Ụ C, khu phố H, phường C (phường A, Quận H cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. (ông Trần Gia T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Thái Kim T1 vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được

- nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có người đại diện hợp pháp là ông Trần Gia T trình bày:

Ngày 27/3/2019, bà Thái Kim T1 có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (nay là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau:

Loại thẻ

Số thẻ

Hạn mức

Ngày ký hợp

Lãi suất áp

đồng

dụng

Visa

40.000.000đ

27/3/2019

2.15 %/tháng

472075-5941

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Thái Kim T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 422.843.881 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Thái Kim T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 386.250.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước;

+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;

+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ;

+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;

+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ;

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Thái Kim T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Thái Kim T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 23/7/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 46.854.070 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là 2.6%).

Do bà Thái Kim T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà Thái Kim T1 phải trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 04/6/2026 là: 177.384.200 đồng. Cụ thể là:

Loại thẻ

Số thẻ

Nợ gốc

Lãi quá hạn Lãi suất áp dụng

3.9% (2.6% x

Visa

472075-5941 46.854.070đ 130.530.130đ

150%)

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà T1, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà Thái Kim T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần S kính đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

Buộc bà Thái Kim T1 phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/6/2026 là: 177.384.200 đồng (một trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm đồng) trong đó: Nợ gốc: 46.854.070 đồng; Lãi quá hạn: 130.530.130 đồng. Đồng thời, buộc bà Thái Kim T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 05/6/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Thái Kim T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Thái Kim T1 theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn bà Thái Kim T1, bà Thái Kim T1 có nơi cư trú tại: D Ụ C, khu phố H, phường C (phường A, Quận H cũ), Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là ông Trần Gia T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Thái Kim T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Gia T và bà Thái Kim T1 theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu, căn cứ quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét về thời hiệu đối với vụ kiện này. [4] Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự của các bên đương sự đang thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015, quy định pháp luật có liên quan và các văn bản hưởng dẫn thi hành để giải quyết vụ án. [5] Xét thấy các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp mà bị đơn không có phản đối do đó căn cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn không cần phải chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó. Bà Thái Kim T1 vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên bà Thái Kim T1 từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xét xử vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo nội dung hợp đồng mà phía nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Gia T thì ngày 27/3/2019, bà Thái Kim T1 có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số thẻ: 472075-5941, hạn mức tín dụng là: 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.15%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Thái Kim T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 422.843.881 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Thái Kim T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 386.250.000 đồng. Như vậy, nội dung hợp đồng mà các bên xác lập thể hiện sự thỏa thuận tự nguyện của các bên và không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực, phù hợp với các quy định tại Điều 117, Điều 463 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

Mặc dù phía Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Thái Kim T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Thái Kim T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/7/2020 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn tại thời điểm này là: 46.854.070 đồng (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là 2.6%).

Tính đến ngày 04/6/2026, bà Thái Kim T1 còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S các khoản sau: nợ gốc là: 46.854.070 đồng và nợ lãi quá hạn là: 130.530.130 đồng, tổng cộng là: 177.384.200 đồng (một trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm đồng).

Đối với thẻ tín dụng số: 472075-5941, số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc: 46.854.070 đồng với lãi suất quá hạn là: 3.9%/tháng (2.6%/tháng x 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 46.854.070 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn bà Thái Kim T1:

Buộc bà Thái Kim T1 phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/6/2026 là: 177.384.200 đồng (một trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm tám mươi bốn ngàn hai trăm đồng), trong đó: nợ gốc là: 46.854.070 đồng và nợ lãi quá hạn là: 130.530.130 đồng.

Bà Thái Kim T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 05/6/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn bà Thái Kim T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đã được Tòa án thông báo cho bà Thái Kim T1 biết nhưng đến tại phiên tòa hôm nay bà Thái Kim T1 không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của bà Thái Kim T1 ký với nội dung yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) phát hành thẻ với hạn mức tín dụng là 40.000.000 đồng. Từ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đã cấp thẻ tín dụng cho bà Thái Kim T1 với hạn mức tín dụng là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, nhiều lần Ngân hàng yêu cầu bà Thái Kim T1 thanh toán nợ nhưng bà Thái Kim T1 không thực hiện, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Căn cứ vào các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ ký giữa bà Thái Kim T1 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) và căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91 và Điều 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đối chiếu quy định như trên thì yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S buộc bà Thái Kim T1 phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/6/2026 là: 177.384.200 đồng (một trăm bảy mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi bốn ngàn, hai trăm đồng), trong đó: nợ gốc là: 46.854.070 đồng và nợ lãi quá hạn là: 130.530.130 đồng. Đồng thời, buộc bà Thái Kim T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 05/6/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng, là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Thái Kim T1 phải trả ngay một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (trước đây là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/6/2026 là 177.384.200 đồng (một trăm bảy mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi bốn ngàn, hai trăm đồng), trong đó: nợ gốc là: 46.854.070 đồng và nợ lãi quá hạn là: 130.530.130 đồng. [10] Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 có quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà Thái Kim T1 tiếp tục chịu lãi phát sinh sau khi xét xử là có cơ sở chấp nhận. [11] Về án phí: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Thái Kim T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 8.869.210 đồng (tám triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm mười đồng); nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Căn cứ Điều 117, Điều 463; Khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (trước đây là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) đối với bị đơn bà Thái Kim T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc bị đơn bà Thái Kim T1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (trước đây là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) tổng cộng số tiền là: 177.384.200 đồng (một trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm tám mươi bốn nhìn hai trăm đồng), trong đó: nợ gốc là: 46.854.070 đồng và nợ lãi quá hạn là: 130.530.130 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 05/6/2026), bà Thái Kim T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn bà Thái Kim T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 8.869.210 đồng (tám triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm mười đồng).

- H lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (trước đây là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) số tiền tạm ứng án phí là: 4.072.190 đồng (bốn triệu không trăm bảy mươi hai nghìn một trăm chín mươi đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004879 ngày 15/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ