- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án: 115/2017/DS-ST Ngày: 21/7/2017 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức.
Hội Thẩm nhân dân:
- Ông Lý Văn Hùng.
- Bà Lê Thị Cẩm Tú.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 21/7/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 242/2017/TLST-DS ngày 24/5/2017 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2017/QĐXXST-DS ngày 28/6/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2017/QĐST-DS ngày 07/7/2017, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (gọi tắt là Ngân hàng A)
Địa chỉ trụ sở: đường B, phường C, quận D, Tp.Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T – Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Phường Đ, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo văn bản ủy quyền ngày 12/5/2017.
Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1969.
Địa chỉ: đường T, thị trấn N, huyện H, tỉnh Long An.
(Ông P có mặt, ông T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2017 của Ngân hàng Thương mại cổ phần A (gọi tắt là Ngân hàng A), những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, ông Nguyễn Hoàng P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguyên vào ngày 04/12/2014, ông Lê Văn T có ký hợp đồng tín dụng số 20141212-500000-0065 với Ngân hàng A để vay số tiền 15.750.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng, mục đích vay tiêu dùng các nhân. Theo thỏa thuận thì T có trách nhiệm thanh toán số tiền 27.383.000 đồng (bao gồm cả gốc và tiền lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng. Hai mươi ba tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.142.000 đồng, tháng cuối cùng trả số tiền 1.117.000 đồng, thanh toán vào ngày 16 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 16/01/2015.
Thực hiện hợp đồng thì ông T đã nhận đủ số tiền và có thanh toán cho Ngân hàng A được 05 kỳ với tổng số tiền 6.851.000 đồng. Kể từ ngày 31/11/2015, ông T không thanh toán bất cứ khoản tiền nào mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhỡ.
Nay Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông T phải thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ đến hạn là 20.532.000 đồng (trong đó nợ gốc 13.339.724 đồng và nợ tiền lãi là 7.912.276 đồng).
Đối với ông Lê Văn T, từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến tòa theo giấy triệu tập, không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung ý kiến gì thêm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai công khai tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1.Về tố tụng,
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông Lê Văn T nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung là đúng quy định tại các điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với ông Lê Văn T thì quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, thời hiệu khởi kiện còn trong hạn luật định.
2. Về nội dung,
Qua đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự, các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp có căn cứ để xác định giữa ông Lê Văn T và Ngân hàng A có giao kết hợp đồng tín dụng, thể hiện qua giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được hai bên ký kết vào ngày 04/12/2014, số tiền vay là 15.750.000 đồng, lãi suất 5%/tháng; đến nay ông T còn nợ lại số tiền là 20.532.000 đồng (trong đó nợ gốc 13.339.724 đồng và nợ tiền lãi là 7.912.276 đồng) chưa thanh toán.
Ông T vắng mặt tại phiên tòa, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc xuất trình bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho việc không vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngược lại, Ngân hàng A xuất trình các tài liệu chứng cứ chứng minh được các khoản nợ mà ông T còn nợ. Như vậy, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
Do vậy, xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A yêu cầu ông Lê Văn T phải thanh toán khoản nợ đến hạn là 20.532.000 đồng (trong đó nợ gốc 13.339.724 đồng và nợ tiền lãi là 7.912.276 đồng) là có căn cứ, phù hợp với các điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Ông Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với mức án phí là 5% trên số tiền nguyên đơn khởi kiện được Hội đồng xét xử chấp nhận để sung ngân sách Nhà nước là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 26, 35, 39, 92, 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, khoản 2, 3 Điều 95, điểm a, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 280, 292, 299, 317, 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Văn T.
Buộc ông Lê Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A tổng số nợ là 20.532.000 đồng (trong đó nợ gốc 13.339.724 đồng và nợ tiền lãi là 7.912.276 đồng).
2. Về án phí:
Buộc ông Lê Văn T phải nộp 1.027.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A tiền tạm ứng án phí đã nộp là 513.000 đồng theo biên lai thu số 0000521 ngày 22/5/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà.
Án xử sơ thẩm, tuyên án công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại UBND địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. Thành viên Hội đồng xét xử Lý Văn Hùng – Lê Thị Cẩm Tú | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Thức Chủ tọa phiên tòa Văn Công Thức |