vanban.org

Bản án 115/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với anh Hoàng Công T

Thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1 -phố H (ngày 09/4/2026). Anh Hoàng Công T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "HOÀNG CÔNG TIẾP"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với anh Hoàng Công T
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3- HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 115/2026/QĐ-TAHà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

* Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – chủ tọa phiên họpBà Nguyễn Thị Hồng Thắm

2. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Linh Chi, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 –

Hà Nội.

Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hồ sơ thụ lý số 106/2026/ 23 tháng 4 năm Quyết định mở phiên họp số 106/2026/QĐ-TA ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Hoàng Công năm 1974; Số CCCD 024074020486; Nơi thường trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở hiện tại: Lang thang không có nơi cư trú ổn địnhNghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Bố: Hoàng Công T1đã chết)Mẹ: Nguyễn Thị G; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/9/2005 bị Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng về tội Dâm ô đối với trẻ em; Ngày 30/8/2006 bị Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 14/02/2008 bị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 15/12/2011 bị Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 25/8/2016 bị Toà án huyện B, tỉnh Hải phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Hiện đang bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1 –phố chỉ: Xã Y, thành phố Hà Nội Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội: Ông Dương Quốc Hoàng

- Kiểm sát viên.

2. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an phường Đ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện: Ông Phan Hữu L – Phó trưởng Công an phường Đ, thành phố Hà Nội (Theo Quyết định giao quyền số 10/QĐ-GQXP ngày 04/4/2026 của Trưởng Công an phường Đ, thành phố Hà Nội).

NHẬN THẤY

Hoàng Công T bị Công an phường phố Đ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 04/4/2026, Hoàng Công T1 đang lang thang tại khu vực ngõ B, phường Đ, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác Công an phường Đ tiến hành kiểm tra hành chính. Tại thời điểm kiểm tra, T không xuất trình được giấy tờ tuỳ thân và khai nhận là người nghiện ma tuý. Công an phường Đ đã lập biên bản đưa T về trụ sở Công an phường để làm tiến hành xét nghiệm ma túy. Kết quả xét nghiệm thể hiện Hoàng Công T dương tính với ma túy. Hoàng Công T khai nhận có nghiện sử dụng ma túy khoảng năm 2025 cho đến nay vẫn lệ thuộc vào ma tuý, loại ma tuý sử dụng là ma tuý tổng hợp (ma tuý đá), hình thức sử dụng ma tuý vào cơ thể là hút, tần suất sử dụng 02 lần/1 tuần, sử dụng ma tuý lần gần đây nhất vào ngày 02/4/2026.

Công an phường Đ đã tiến hành xác minh nhân thân của Hoàng Công T, thể hiện: Hoàng Công T có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh, T không có mặt tại địa phương từ tháng 9/2024 đến nay, sống lang thang không nơi cư trú ổn định; không đăng ký tạm trú ở đâu và cũng không liên lạc với gia đình. Tiếp không thuộc diện quản lý người nghiện, người điều trị cai nghiện ma túy bằng chất thay thế hay quản lý sau cai của địa phương và không đăng ký bất kỳ hình thức cai nghiện tự nguyện nào.

Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 -phố với Hoàng Công T, kết quả: Hoàng Công T nghiện ma túy Methamphetamine.

Ngày 07/4/2026 Công an phường Đ có công văn số 10/CV-CAP gửi Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội về việc đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Công T kèm theo hồ sơ đề nghị.

2. Tại phiên họp:

2.1. Đại diện cơ quan đề nghị Công an phường Đ, thành phố Hà Nội trình bày:

Căn cứ vào vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thể hiện Hoàng Công T là người nghiện ma tuý Methamphetamine vào khoảng năm 2025 cho đến nay và lệ thuộc vào ma tuý. Công an phường Định Công giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội phát biểu ý kiến:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an phường phố Đ lập đảm bảo đúng thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; hồ sơ đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 của Luật xử phạt vi phạm hành chính. Các văn bản tố tụng hành chính sau khi được ban hành đều được giao cho người bị đề nghị để họ thực hiện các quyền của mình theo quy định.

Tòa án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp đúng thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 12 và Điều 17, Điều 18 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022. Thành phần phiên họp đúng quy định và phù hợp với quyết định mở phiên họp. Thẩm phán thực hiện đầy đủ các bước tiến hành phiên họp.

Căn cứ Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Điều 10, Điều 95 và 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2020); Điều 27, Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; khoản 1, 2 Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48 và 49 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC –TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1– Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G1cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; đề nghị Tòa án nhân dân khu vực Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Công T thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng.

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ việc, lời trình bày và ý kiến của những người tham dự phiên họp;

XÉT THẤY

. Trình tự thủ tục tố tụng:

Về hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Công T đã đảm bảo đúng đối tượng quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; đảm bảo thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; đúng trình tự thủ tục, đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40, Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

. Nội dung: Hoàng Công T là người đủ khả năng nhận thức và điềuhành vi của mình, biết việc sử dụng trái phép chất ma tuý là trái pháp luật nhưng để thỏa mãn sự nghiện ngập của bản thân mà T vẫn cố tình sử dụng ma túy.

Hoàng Công nhận có nghiện sử dụng ma túy khoảng năm 2025 cho đến nay vẫn lệ thuộc vào ma tuý, loại ma tuý sử dụng là ma tuý tổng hợp (ma tuý đá), hình thức sử dụng ma tuý vào cơ thể là hút, tần suất sử dụng 02 lần/1 tuần, sử dụng ma tuý lần gần đây nhất vào ngày 02/4/2026. Lời khai của hợp với kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu của Trung tâm T2 và kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở cai nghiện ma túy số 01, thành phố Hà Nội xác định Hoàng Công T nghiện ma túy Methamphetamine.

Theo kết quả tra cứu của Cục S - Bộ C2 hiện Hoàng C có 04 tiền án.

Như vậy, Hoàng Công T là người nghiện ma túy đã đủ 18 tuổi, không đăng ký đi cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế thuộc diện quản lý người sau cai nghiện ở địa phương.

Căn cứ định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2020); Điều 27khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, Tống Văn V thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đề nghị của Công an phường Đ và Viện kiểm sát nhân dân khu vựcHà Nội về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Công T có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 3, Điều 20, 21, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBNTQH13 ngày 31/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Toà án nhân dân;

Căn cứ Điều 04, Điều 8, Điều 9, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Điều 10, Điều 95 và 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2020); Điều 27, Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; khoản 1, 2 Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48 và 49 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC –TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1– Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với anh Hoàng Công T

2. Thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1 -phố H (ngày 09/4/2026).

3. Anh Hoàng Công T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.

Công an phường phố Đ có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an phường phố Đ có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ